Rup halin ( about me)

Ảnh của tôi
Dalam tanâh Yuen hu anâk Cam saong nagar Cam

Sang/Home

Hiển thị các bài đăng có nhãn Rakyat Champa ( Champa Civilisation). Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Rakyat Champa ( Champa Civilisation). Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011

Người Chăm Islam Trên Xứ Chùa Tháp

ác giả : Ngô Thế Vinh
(Gửi Nhóm Bạn Cửu Long & Anh Dohamide )
While hot waters run shallow,
cold waters run deep_ Haji Yasuf
NHỮNG BÔNG SỨ TRÊN ĐẤT CHÙA THÁP
Đầu thế kỷ 19, ngay sau khi Lê Văn Duyệt Tổng Trấn Gia Định Thành từ trần 1832, tiếp theo sự kiện một số người Chăm theo Lê văn Khôi_ con nuôi Lê Văn Duyệt, nổi loạn chống lại triều đình Huế, vua Minh Mạng có ngay quyết định tức tốc chiếm đóng Panduranga-Champa áp dụng chính sách cực kỳ tàn bạo thẳng tay tiêu diệt tất cả những người Chăm không phục tùng triều đình Huế. Ngay sau đó Minh Mạng cho lệnh xóa bỏ Panduranga-Champa trên bản đồ và chia đất đai lại thành hai huyện An Phước và Hòa Đa thuộc tỉnh Bình Thuận.
Từng bị tan tác trong những cuộc phân tranh đẫm máu giữa Chúa Nguyễn và Nhà Tây Sơn, một lần nữa dân tộc Chăm bỗng trở thành nạn nhân vô cùng bất hạnh “giữa hai đường gươm giáo” trong những cuộc tranh chấp giữa những người Việt. Năm 1832 có thể coi là thời điểm mốc đánh dấu vương quốc Champa hoàn toàn bị tiêu vong do cuộc Nam Tiến của người Việt.
Thoát được cuộc tàn sát khủng khiếp của vua Minh Mạng, những người Chăm còn sống sót ở các tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam_ vốn là quê hương họ, đã phải tìm đường trốn chạy sang Cam Bốt. Họ định cư đông nhất ở các tỉnh Kompong Cham, Kompong Chhnang [Kompong có nghĩa là bến sông] và một số khác sống rải rác theo hai bờ con sông Mekong, sông Tonlé Sap và Biển Hồ. Họ chủ yếu sống bằng nghề đánh cá, trồng lúa, dệt lụa, chuyên mổ trâu bò (do người Khmer theo đạo Phật kiêng sát sinh), nghề rèn dao búa, họ còn biết làm thuốc và một số ít sống ở các vùng hẻo lánh còn có tài về ma thuật (sufi).
Theo mấy người bạn anh Dohamide trốn thoát được Khmer Đỏ sang Thái Lan hiện định cư ở Mỹ kể lại thì những người Chăm có tay nghề rèn rất được trọng dụng dưới thời Pol Pot, họ được tuyển mộ vào những công binh xưởng để rèn vũ khí cho dù họ vẫn bị Khmer Đỏ nghi kỵ và nếu bất ưng thì vẫn cứ bị giết.
Mức sống của các cộng đồng người Chăm cao thấp khác nhau. Giàu có sung túc ở các tỉnh Kompong Cham, Kompong Chhnang; mức sống nghèo khó như ở Takeo, các làng ven sông Tonle Sap.
Giữa một xã hội Khmer theo Phật giáo như một quốc giáo, những người Chăm sống sót từ vương quốc Champa cho dù tiêu vong nhưng do họ vẫn muốn giữ một căn cước chủng tộc và văn hóa riêng nên họ đã chọn theo đạo Hồi khi có dịp tiếp xúc với các thương nhân tới từ các nước Hồi Giáo như Mã Lai, Nam Dương, Ấn Độ… Tôn giáo này đã phát triển rộng khắp trong cộng đồng người Chăm sống trên xứ Chùa Tháp cho dù tổ tiên họ trước đó có rất ít người có gốc gác theo đạo Hồi.
Người Chăm Muslim [còn được người địa phương gọi là Khmer Islam] khoảng 500 ngàn người là cộng đồng thiểu số tôn giáo lớn nhất ở Cam Bốt. Số người Việt trên xứ Chùa Tháp có thể đông hơn nhưng là những cộng đồng đa tôn giáo: Phật giáo, Thiên Chúa Giáo… Nếu Bông Sứ Champaka là biểu tượng của vương quốc Champa, có thể xem các cộng đồng Chăm Islam tỵ nạn này như những Bông Sứ nở trên đất Chùa Tháp.
Khác biệt với các cộng đồng người Chăm còn ở lại Việt Nam như ở các tỉnh Phan Rang Phan Rí đa số theo đạo Bà La Môn (Chăm Ahier), cũng có ít người Chăm theo đạo Hồi nhưng vẫn còn giữ lại nhiều nét sinh hoạt cổ truyền (Chăm Awal hay Bani) nên họ khác với người Chăm Muslim Châu Đốc (Chăm Bhrâu_ hay Chăm Mới).
Cộng đồng người Chăm Muslim Châu Đốc [mà dân địa phương quen gọi là Chà Châu Giang] có gốc gác từ Cam Bốt xuống, Thoại Ngọc Hầu đã tuyển mộ họ từ các đạo quân Côn Man để dùng như một lực lượng kìm kẹp trấn áp những sưu dân người Khmer trong công trình đào con Kinh Vĩnh Tế kéo dài hơn 5 năm với rất nhiều gian khổ chết chóc và thống hận; sau đó lớp người Chăm này được triều đình Huế thưởng công cấp đất cho lập bảy làng _ người Chăm gọi là Puk, để họ lập nghiệp làm ăn sinh sống_ như kết quả cuộc di dân lần thứ hai_ secondary migration.
SỐNG CÒN TRÊN VÙNG ĐẤT KHÓ
Do sự khác biệt về tôn giáo, cộng thêm với quá khứ người Chăm thường hợp tác với Việt Nam nên họ cũng bị người Khmer thù ghét, bị đối xử như một thứ công dân hạng hai_ tuy không tới mức gay gắt như đối với người Việt [mà người Khmer khinh miệt gọi là Bọn Yuon hay Bọn Bắc] nhưng họ cũng đã trở thành những nạn nhân của cuộc tẩy sạch chủng tộc [ethnic cleansing] của Pol Pot trong thập niên 70.
Ước tính đã có khoảng hơn một nửa tổng số người Chăm bị Khmer Đỏ sát hại, cộng thêm với những tổn hại vật chất hầu hết các thánh đường [Mosques] và trường học Hồi giáo bị phá hủy. Một số ít sống sót lại phải theo đường sông Mekong về hướng bắc trốn chạy sang Lào và hình thành một cộng đồng Chăm Islam trong quận Chantabouli ở Vạn Tượng.
Số người Chăm còn sống sót dưới thời kỳ Khmer Đỏ đã phải chịu vô vàn khó khăn thống khổ. Họ bị bỏ cho đói khát và hoàn toàn bị tước đoạt mọi tự do. Họ bị cấm cầu nguyện hay duy trì các tập tục Hồi Giáo, bị cấm nói tiếng Chăm, bắt phải ăn thịt heo cho dù đó là điều cấm kỵ trong đạo Hồi_ nếu cưỡng lại hay từ chối là bị giết. Phụ nữ Chăm bị bắt phải cắt tóc ngắn, cấm choàng khăn…
Một tương phản đáng ngạc nhiên là cho dù Thái Lan cũng là một quốc gia Phật giáo Tiểu thừa giống như Cam Bốt nhưng các cộng đồng người Chăm Islam ở miền nam Thái Lan lại có một cuộc sống thanh bình và ổn định hơn nhiều.
CÙNG VỚI NƯỚC CAM BỐT HỒI SINH
Thời kỳ sau Khmer Đỏ, cộng đồng Chăm Muslim đã phải đương đầu với thật nhiều vấn đề: như thiếu trường học, thiếu những thánh đường làm nơi cầu nguyện và thành phần người Chăm trí thức sống sót sau Khmer Đỏ kể như đếm được trên đầu ngón tay và tỉ lệ trẻ mồ côi Chăm thì rất cao.
Nhưng dần đà với thời gian, các thánh đường và trường học Hồi giáo lại bắt đầu được phục hồi do tiền trợ giúp từ Mã Lai, Saudi Arabia, Kuwait và các quốc gia Hồi giáo khác; cũng phải kể tới số tiền của các cộng đồng Chăm Islam ở hải ngoại từ Mỹ, Canada và Tân Tây Lan gửi về.
Điển hình là Kuwait đã tài trợ một cách hào sảng cho một số cộng đồng Chăm Islam để họ có phương tiện cải thiện cuộc sống tăng lương 20 đôla mỗi tháng cho các thầy giáo. Đó là những giúp đỡ thuần túy trong sáng chứ không kèm theo một điều kiện áp đặt nào.
Trước Khmer Đỏ có khoảng hơn 300 thánh đường Hồi giáo trên đất nước Cam Bốt nhưng đã bị hủy hoại gần hết dưới thời Pol Pot. Điều đáng mừng là hiện nay [thời điểm 12/2001] đã có hơn con số ấy, ngoài những ngôi thánh đường cũ được tái thiết còn có thêm những thánh đường mới. Ngôn ngữ dùng trong lễ giảng gồm tiếng Chăm, tiếng Khmer và cả tiếng Ả Rập [nhưng lại có rất ít người Chăm biết tiếng Ả Rập_ cho dù đó là ngôn ngữ của Kinh Koran].
Người Chăm Sunni Islam luôn luôn sống hài hòa với những tôn giáo khác. Không phải là hiếm thấy cảnh người Chăm cúng dường thức ăn cho các nhà sư đi khất thực qua nhà họ, cả đưa đò hay phà miễn phí cho các vị ấy qua sông.
Về phương diện xã hội, người Chăm Islam đã có một cuộc sống dễ thở hơn trong sinh hoạt cộng đồng và tôn giáo. Đơn giản như trong dịp lễ hội, người Chăm Islam bây giờ có tự do được mổ bò ăn mừng thay vì mọi chuyện phải xin phép là có được hay không như trước đây.
Về phương diện chính quyền, vào thập niên 60s, chỉ có duy nhất một người Chăm Islam làm thứ trưởng Bộ Thờ Phượng và Tôn Giáo [Ministry of Cults & Religious Affairs] nhưng sau đó thì bị Khmer Đỏ giết. Nay tình hình được cải thiện rõ rệt dưới chính quyền Hun Sen, đã có tới 20 người Chăm được tham chính, họ có chân trong nội các cấp Bộ Trưởng, được bầu vào quốc hội chưa kể các thành phần chỉ huy trong quân đội.
Về cơ bản, như mọi cộng đồng Hồi Giáo khác trên thế giới, người Chăm Islam xem đấng Allah là Thượng Đế, Mohammed là người mang sứ điệp của Allah tới họ. Thế hệ Chăm Islam 2000 luôn luôn được nhắc nhở giữ giáo luật như cầu nguyện 5 lần mỗi ngày, cấm mình trong Mùa Chay Ramadan [nhịn ăn từ sáng tới tối kéo dài trong một tháng] để thấy đời sống người nghèo khó khăn ra sao rồi chia xẻ thức ăn tiền bạc với họ. Họ cũng ao ước được tới thánh địa Mecca để viếng mộ phần giáo chủ Mohammed và dự các buổi nghi lễ truyền thống. Hàng năm có hàng trăm người Chăm Muslim từ Cam Bốt đi hành hương Mecca_ nhưng rất ít là phụ nữ.
Nhìn chung sinh hoạt của cộng đồng Chăm Islam trên xứ Chùa Tháp không quá khắt khe như các cộng đồng Hồi Giáo Chính Thống [Fundamentalist] khác trên thế giới. Về y phục, đàn ông Chăm Islam thường vẫn đội mũ và quấn sarong. Phụ nữ Chăm tuy không bị bắt buộc phải mang y phục che kín hết phần thân thể và mạng che mặt chỉ để hở đôi mắt như ở Afghanistan, nhưng họ vẫn được khuyên răn là nên choàng khăn không để xõa tóc vì có thể kích dục nơi người đàn ông không phải là chồng họ. Không có cấm đoán hôn nhân ngoài chủng tộc hay với thành phần tôn giáo khác.
Sau Khmer Đỏ, với 20 ngàn lính Mũ Xanh UNTAC [United Nations for Transitional Authority in Cambodia] hiện diện ở Cam Bốt, phải nói là cả xã hội như một toàn thể đã có nhiều thay đổi theo cả cái nghĩa tốt và xấu. Họ tới để bảo vệ cho một nền hòa bình còn quá non trẻ để tiến tới xây dựng một nền dân chủ sơ khai cho Cam Bốt nhưng đồng thời cũng mang tới những ảnh hưởng tiêu cực như gia tăng đĩ điếm gia tăng hiểm họa dịch HIV…
Và ngày nay không phải là hiếm thấy ở Cam Bốt những người phụ nữ Chăm Islam thế hệ 2000 mặc váy ngắn hở chân, áo T-shirt hở ngực; và xa hơn thế nữa cho dù giáo luật khắt khe cấm liên hệ tình dục bên ngoài phạm vi gia đình nhưng vẫn có một số ít đàn ông và phụ nữ Chăm cũng không tránh được sa ngã trở thành nạn nhân của dịch HIV đang hoành hành từ đô thị tới thôn quê trên khắp đất nước Cam Bốt.
NHỮNG NGÀY SAU 911
Sau biến cố 911 ở New York, Washington đưa tới phản ứng trả đũa của Hoa Kỳ dội bom trải thảm ở Afghanistan. Biến cố xa hơn nửa vòng trái đất ấy nhưng không phải là không có ảnh hưởng gây khó khăn cho cộng đồng người Chăm Islam ở Cam Bốt trong vấn đề giao tiếp với thế giới bên ngoài. Rõ rệt nhất là các nguồn tài trợ cho các công tác thuần túy phát triển giáo dục xã hội và tôn giáo nhưng bị ngộ nhận là có thể liên quan xa gần tới các tổ chức khủng bố nên đã bị gián đoạn khiến một số công trình xây cất phải bỏ dở dang.
Cùng lúc không phải là tình cờ mà Bộ Thờ Phượng và Tôn Giáo của chính quyền Hun Sen đã cho ban hành đạo luật mới quy định một số hạn chế sinh hoạt tôn giáo_ mà đối tượng rõ ràng là nhắm tới các cộng đồng Chăm Islam ở Cam Bốt.
Haji Yusuf, lãnh tụ uy tín cộng đồng Chăm Islam Nam Vang [Phó Giáo_ Deputy Imam của Thánh Đường Al-Azhar] khi trả lời cuộc phỏng vấn báo Pnom Penh Post, Yusuf đã bày tỏ sự không đồng ý với các cuộc giội bom ồ ạt của Mỹ xuống Afghanistan gây tổn thất cho cả thường dân và theo ông biện pháp ôn hòa để chống lại các nhóm khủng bố sẽ có hiệu quả lâu dài hơn so với cuộc chiến tranh nóng như hiện nay. Rồi ông ta đưa ra một hình tượng rất ý nghĩa: “Dòng nước nóng chỉ chảy cạn trên bề mặt trong khi dòng nước lạnh thì chảy dưới sâu hơn_ while hot waters run shallow, cold waters run deep”. Yusuf tiếp: “ Nước Mỹ có thể làm bất cứ điều gì_ thế giới là ở trong tay họ. Chúng tôi không hề oán hận nước Mỹ bởi vì cả ngàn người Mỹ đã chết trong cuộc tấn công 911 vừa qua…” Ông ta chỉ muốn khuyên người Mỹ kiên nhẫn và hành động bằng một đầu óc tỉnh táo thay vì giận dữ như hiện nay.
Yusuf còn đưa ra một nhận định khái quát hơn, ông tiếp: “Tôi nghĩ rằng Phương Tây không nên bôi nhọ hình ảnh thế giới Hồi Giáo và rồi ra trong tương lai họ sẽ hiểu rõ Hồi Giáo hơn rằng đó là một tôn giáo tốt và chỉ có cá nhân chứ không phải Đạo Hồi có hành động khủng bố… Đạo Hồi là tôn giáo cầu nguyện cho hạnh phúc và xem chuyện giết tróc là có tội. Kể cả đốn chặt cây không lý do cũng là mang tội. “
Khi tới với Kompong Cham và Kompong Chhnang có niềm vui để thấy những gia đình người Chăm Islam có được một cuộc sống tương đối ổn định và cả sung túc. Nhưng khi tới với những người Chăm sống hai bên bờ sông Tonlé Sap, thấy họ sống trên các nhà sàn, nhà nổi và cả trên những chiếc ghe và cũng để thấy rằng họ không thể nào nghèo hơn, ngoài sự sống còn để nối truyền và đức tin của họ. Tôi đã chụp được những hình ảnh người Chăm Islam phủ phục cầu nguyện trên ghe trong Mùa Chay Ramadan trên dòng sông Tonlé Sap.
Từ trên một chiếc ghe đỗ, người đàn bà Chăm một mình đứng thả vó trên sông, chiếc vó kéo rộng hơn chiếc phản nặng trĩu mỗi lần nhô lên khỏi mặt nước. Vẫy vẫy trong lưới là đôi ba con cá trắng nhỏ không lớn hơn ba đốt ngón tay, có khi kéo lên một chiếc lưới không. Mửng này cho tới chiều cũng chỉ đủ được một soong cá cho bữa ăn tối gia đình. Vài chiếc ghe khác thì ra giữa sông thả lưới, cá nhiều hơn nhưng không còn thấy được những con cá lớn.
Chiếc ghe chạy vẫn chạy dọc theo hai bên bờ sông Tonlé Sap tới cầu Chruoy Changvar_ cũng là tên của bán đảo trung tâm đông đúc cộng đồng người Chăm Islam lớn nhất của Cam Bốt, phía bên kia cầu là giang cảng cho những con tàu chở khách đi Siem Reap hay đi các tỉnh phía bắc như Kompong Cham, Kratié...
Rời chiếc ghe trở lại con đường đê đất đỏ, không thể không xúc động và thương cảm khi choàng ôm hai em bé Chăm chân đất gầy gò và đen đủi (hình 2) nhưng ánh mắt sáng và thông minh và các em lại không được đi học. Làm sao mà trang trải món nợ tinh thần này với thế hệ của những người Chăm sống sót.
NGÔ THẾ VINH
Chruoy-Changvar – Phnom Penh, 14 - 12 - 01
Tham Khảo:
1/ A perspective from the Cham Muslim community. Robert Carmichael, Lon Nora. Phnom Penh Post. Oct 26 – Nov 8, 2001.
2/ The Chams: survivors of a lost kingdom. Laos and Cambodia. APA Publications GmbH & Co. 2000.
3/ Dân Tộc Chàm Lược Sử. Dohamide, Dorohiem. Hiệp Hội Chàm Hồi Giáo Việt Nam. Sài Gòn 1965.
4/ Góp Phần Tìm hiểu Lịch Sử Champa. Po Dharma. Champaka, No 1 , IOC-Campa San Jose, California 1999

Đồng bào Chăm An Giang

Thánh đường đêm Roya.
Đó là tộc người được dân Đồng bằng sông Cửu Long gọi “Chà Và Châu Giang”. Gọi vậy vì người ta tưởng gốc gác họ là người ở đảo Java (Indonesia) và bởi vì họ là tín đồ Hồi giáo Islam sống nhiều tại Châu Giang (Châu Đốc xưa, nay thuộc thị xã Tân Châu). Thật ra, người Chăm An Giang và đồng bào Chăm các tỉnh Nam Trung bộ là một. Theo một giả thiết, khi rời quê cha đất tổ, họ sang Java, cải đạo (từ Bà La Môn, Bà Ni sang Islam) rồi trở về định cư ở nhiều huyện trong tỉnh Châu Đốc xưa, nhưng phần lớn sống ở Châu Giang.

Trong khi người Chăm miền Trung không ăn thịt bò (vì thờ Bò) thì người Chăm An Giang lại ăn và kiêng kỵ thịt heo, thịt chó, vì cho rằng heo và chó là những con vật dơ dáy. Theo đạo Islam, nên người Chăm An Giang có nhiều luật tục khá khắc nghiệt. Ngày xưa, thiếu nữ Chăm An Giang phải khép mình sống trong nhà quanh năm suốt tháng, vì tục ga-sâm (cấm cung). Sau năm 1975, các cô đã được đi lại làm ăn, nhất là được ca hát, biểu diễn văn nghệ giúp vui cho làng xóm, tranh giải và đã đoạt nhiều huy chương trong các hội diễn, hội thi địa phương và toàn quốc.

Theo đạo Hồi Islam, nên người Chăm An Giang nghiêm chỉnh chấp hành 5 tín điều: Một là, tin tưởng tuyệt đối vào thánh Allah; hai là, hành lễ mỗi ngày 5 lần; ba là, chay tịnh trong tháng thánh lễ Ramadam; bốn là, bố thí cho người nghèo; năm là, hành hương về thánh địa Mecca. Thiêng liêng nhất là tháng thánh lễ Ramadam, còn gọi là tháng ăn chay, vào ngày 1-3 tháng 10 Hồi lịch. Hồi lịch không có tháng nhuận nên tháng Ramadam cứ lùi dần, không cố định thời gian nào so với dương lịch. Năm nay, tháng Ramadam bắt đầu từ ngày 11-8 và chấm dứt vào ngày 9-9-2010.

Tháng Ramadam là “dịp để đồng bào cả nam lẫn nữ từ 5 tuổi trở lên tự kiểm điểm lại những hành động đúng, sai của mình trong từng ngày, từng tháng của năm qua để khắc phục, sửa chữa và sám hối. Mỗi người (trẻ con, người già, người bệnh, phụ nữ có thai, người đi xa nhà thì được miễn) trong suốt tháng này từ rạng đông đến chạng vạng phải tuyệt đối nhịn ăn, nhịn hút thuốc lá, nhịn uống; khi tắm cũng không để cho nước chảy vào lỗ tai; nhịn quan hệ tình dục; không sát sinh hại vật; nhất là không gây gổ, cãi vã làm mất đoàn kết với bất cứ ai”.

“Để chuẩn bị cho tháng khắc khổ này, trước ngày lễ Ramadam, bà con trong xóm tụ họp lại bàn tính việc hùn nhau mua sắm bánh trái hoặc dê bò (tuyệt đối kiêng ăn thịt heo và thịt chó, nên họ không nuôi những con vật này), để khi “ra lễ”, 29 ngày sau tháng Ramadam, sẽ cùng nhau liên hoan vui vẻ tại một căn nhà rộng hay tại thánh đường, nhưng vẫn không được uống rượu kể cả bia. “Những ngày hội” sau tháng thánh lễ này được diễn ra trong ba ngày. Đây cũng là ngày “hẹn truyền thống” của những thành viên trong xã hội người Chăm Hồi giáo. Tất cả những người vì sinh kế đi làm ăn buôn bán phương xa đều bươn bả trở về đoàn tụ với gia đình, thăm hỏi bà con thân thuộc, xóm giềng. Họ xem đây là ngày vui nhất, nhà nào cũng sẵn sàng cơm nước và chuẩn bị đầy đủ đặc sản để đãi khách, bất kể thân, sơ, gọi Tết Roya, vui như người Việt ăn Tết Nguyên đán vậy” (Nguyễn Hữu Hiệp, “An Giang - Văn hóa một vùng đất”, tr. 195, 196, 197, NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2003).

Tết Roya, gọi đầy đủ là Roya Phitrok. Trong các ngày này, người Chăm đi chúc mừng nhau, xin xóa tội cho nhau, đặc biệt bố thí cho những người nghèo khổ... Cũng như các dân tộc khác, Tết Roya, đồng bào Chăm An Giang ăn diện trang phục truyền thống thật đẹp. Các thiếu nữ Chăm tha thướt trong chiếc ao tunic (áo dài), duyên dáng với chiếc khanh maom (khăn thêu) trên mái tóc đen tuyền. Nhìn các cô đi trên phố, ta có cảm tưởng lạc vào xứ sở “Ngàn lẻ một đêm” huyền bí. Các chàng trai Chăm trang trọng trong trang phục ao karung (áo dài nam), quấn xà-rông, đội mươt (nón). Tất cả nô nức kéo nhau đến thánh đường.

Thánh đường Chăm được xây dựng theo kiểu kiến trúc Mas Jid Mecca. Đó là một căn phòng rộng, dài nằm theo hướng Tây - là hướng tín đồ nhìn về khi hành lễ, gọi là Ka’Bah. Ở phía Tây, vách Thánh đường có một khoảng lõm vào (gọi là Mih Rab), bên phải có bục giảng (gọi là Min Bar) là nơi để thầy cả đứng giảng cho tín đồ nghe bằng tiếng Chăm về giáo luật. Ở góc thánh đường có tháp cao, gọi là Manara để Bilal gióng chuông báo giờ hành lễ mỗi ngày 5 lần. Các lễ này gồm: Su Boh (rạng đông), Zu Hur (trưa), Asar (chiều), Magh-Rib (hoàng hôn) và I-Sha (tối). Ngày thứ sáu hằng tuần, lúc 12 giờ trưa, tất cả nam tín đồ trên 15 tuổi phải đến thánh đường hành lễ, gọi là HaGav Lum At. Tín đồ vận chăn, đầu đội khăn trắng, trang nghiêm với các thao tác: đứng im khoanh tay trước ngực hoặc ngồi để tay trên đùi, vuốt mặt hay cúi đầu sát đất với cả lòng thành kính. Có thể nói thánh đường đẹp nhất của họ là Mubarak ở Phũm Xoài (Châu Giang). Nóc giáo đường này cao vút với nhiều vòm trông rất uy nghiêm, trang nhã.

Dịp Tết Roya, người Chăm thường ăn các đặc sản của mình. Thứ nhất là cà ri và cà púa. Cà ri còn được gọi là cà ri Chà, nấu với thịt bò, thịt dê hoặc thịt gà, thịt vịt, nhưng ngon nhất là thịt con dê đực khoảng 1 năm tuổi. Cà ri nấu với khoai. Cà púa cũng làm với thịt các con vật ấy nhưng ướp với các gia vị mạnh mùi (bột cà ri, đinh hương, quế khâu, củ hành tím, ớt khô, tỏi, muối, đường, bột ngọt), đặc biệt phải thiệt cay, hơn cả cà ri. Con vật để làm 2 món này phải được cắt tiết theo đúng quy định của đạo Islam. Người ta đặt đầu con vật về hướng Tây, đọc kinh Coran, rồi cắt lấy tiết (không lấy huyết), sau đó mới xả thịt. Cà púa được xem là đặc sản “độc nhất vô nhị” của người Chăm An Giang. Ngoài hội đủ các yếu tố cần thiết của món ngon, cà púa còn tập hợp đầy đủ hương vị hấp dẫn làm cho khoái khẩu khi ăn. Cà púa được nấu với nhiều dừa, cực béo, nhưng không làm tháo dạ. Sau khi làm cà púa (ăn với cơm nị), thịt bò vụn người ta làm tung lò mò: Loại bỏ hết gân và bầy nhầy của thịt bò vụn, người ta xắt thịt rồi bằm nhuyễn cùng với mỡ bò, trộn tiêu, tỏi, bột ngọt, đường cùng một vài gia vị bí truyền, để cho thấm. Ruột bò lộn trái, cạo, rửa nước muối, rửa sạch rồi lộn lại, phơi hơi se. Dồn thịt vào ruột bò, thắt từng khúc chừng 3 đốt tay, tròn cỡ ngón chân cái, phơi chừng 3 nắng. Giống như lạp xưởng của người Hoa, tung lò mò nướng (kilete) hoặc chiên (chuh) khi ăn.

Về lễ cưới người Chăm An Giang, gồm có những nghi thức trang trí cho phòng cô dâu, chú rể như gối nằm, gối dựa, những hoa văn trên tấm ti-gai (màn) có đính nhiều hạt chuỗi thủy tinh nhiều màu sắc, đính nhiều bông hoa (bông lựu, bông bốn cánh, các loại dây leo,...). Còn có cái khay đựng tiền và 2 cái hộp bằng đồng theo tập tục Khmer để đựng trầu cau, đựng rượu. Cô dâu mặc áo dài bằng nhung (hay nhiễu) đỏ, tím, chạy dài xuống quá gối, không xẻ hông. Một cái băng to bản màu xanh lam quấn quanh ngực và vai, có đính nhiều vòng chuỗi cườm. Dưới chân áo lộ ra chiếc xà-rông tơ tằm phủ xuống tận mắt cá. Vì là dân tộc theo mẫu hệ nên đám cưới người Chăm không rước dâu mà chỉ đưa rể. Khi chú rể bước xuống thang nhà, bạn bè hát vang bài “La mệ La mư” (bài hát giã từ cha mẹ)...

Có một điều hiếm người biết về mộ người Chăm. Theo ông Solaymal (80 tuổi) quản lý Khu nghĩa địa dân tộc Chăm Hồi giáo ở Phũm Xoài cho biết Nguyễn Hoàng đã đưa đồng bào Chăm miền Trung vào đây đánh đuổi quân Miên xâm lấn Châu Đốc. Họ hy sinh và được lập mộ tại đây vào năm 1700. Theo tập quán, đồng bào Chăm khi qua đời nội tạng phải ép thật sạch trước khi bó chiếu chôn (không dùng quan tài), mộ không đấp nấm đặt bia, chỉ có hai viên gạch làm dấu. Năm 2000, đồng bào Chăm địa phương hùn tiền xây tường rào bảo vệ di tích, bên trong vẫn là mảnh đất bằng với cỏ dại mọc đầy.

CÁT LỘC

Người Chăm Châu Giang

 - theo báo Cần thơ -
An Giang là tỉnh có người dân tộc Chăm sinh sống tập trung cao nhất miền Nam , trên 13 ngàn người... Và ở đây, đã có một nền văn hóa Chăm thật độc đáo, đặc sắc giữa lòng châu thổ Cửu Long.
Hai nhánh nước
cánh tay trời vạm vỡ
Không đuổi giặc với thanh gươm
mà mở đất với cây đàn...”


An Phú là huyện đầu nguồn châu thổ, nơi sông Cửu long với hai nhánh sông Tiền sông Hậu bắt đầu đi vào đất Việt và cũng là nơi có đồng bào Chăm tập trung đông nhất An Giang. Theo kể lại, với danh hiệu “Chàm chiến thắng” người Chăm đã có mặt tại đây từ hồi chinh chiến cùng quân đội chúa Nguyễn Phúc Chu năm 1699. Tuy cũng khởi đi từ duyên hải miền Trung, từ Trà Kiệu - Mỹ Sơn nhưng tập tục văn hóa người Chăm Hồi giáo An Giang đã khác người Chăm Bình Thuận, Ninh Thuận và quyện chặt với đặc điểm văn hóa sông nước miền Nam ... Chỉ cần qua chuyến phà Châu Giang hay Cồn Tiên là bạn đã đặt chân lên làng Chăm : 9 xóm Chăm với hơn 2.000 gia đình, trên 13 ngàn người sống tập trung thành những ấp hay liên ấp xen kẽ với người Kinh từ biên giới Campuchia chạy dài theo dòng sông Hậu và sông Khánh Bình hợp lưu ở Tam Giang (thị xã Châu Đốc) rồi đổ xuống đến xã Khánh Hòa, huyện Châu Phú. Bên dòng Châu Giang thơ mộng, bên kia sông là Phũm Xoài, bên này sông là Vĩnh Trường, Đa Phước...
“Vàng bông điên điển Châu Giang
Con nước kém ai dừng lại bên bờ châu thổ
Gác dầm nghe câu hát lao lung...”.
Đồng Cô Ky, Lama, Quốc Thái, Khánh Hòa, Nhơn Hội... tạo nên một văn hóa Chăm giữa lòng châu thổ, trong cộng đồng bốn dân tộc anh em, thật độc đáo.
Còn đó lễ hội lồng đèn hàng năm của người Chăm An Phú; còn đó những thánh đường (Masjid) cổ kính đẹp lộng lẫy kiến trúc nóc bằng vòm cao và cửa luôn quay về hướng Đông . Toàn tỉnh có tới 26 thánh đường và tiểu thánh đường Hồi giáo, nổi tiếng nhất là thánh đường Mubarak ở xã Phú Hiệp, Phú Tân, được hạng di tích lịch sử văn hóa . Còn đó những ngôi nhà cao cẳng hình chữ Y với cây đòn dông gác theo trục Đông-Tây đón khách chứ không theo hướng thần đạo Bắc - Nam như nhà người Việt người Hoa . Xã hội người Chăm lại theo mẫu hệ, không rước dâu mà đưa rể về nhà gái ...
Người Chăm Phũm Soài sanh ra đã nhìn thấy khung dệt”, các cụ già kể lại vậy. Phũm Soài, một trong những làng nghề dệt lụa nức tiếng xa gần, góp phần quan trọng hình thành nên một trung tâm tơ lụa lớn nhất miền Nam là Tân Châu với những lò ươm tơ cự phách cùng “con đường tơ lụa” đầy huyền thoại của vùng “Thủ chiến sai” (An Giang) ngày trước. “Con đường tơ lụa” thành danh nhờ bước chân người Chăm Châu Giang và những chuyến hàng từ thủ phủ Tân Châu bập bềnh sông nước len lỏi khắp “Lục tỉnh”, lên Sài Gòn, sang miền Đông và vượt dòng Cửu Long tràn sang cả các nước trong vùng...

Nhờ sự quan tâm khôi phục nghề truyền thống , tất cả các khung dệt của Phũm Soài đều được cải tiến không chỉ kích thước, khổ tấc... mà còn cài số đạp chân, gài số trục để kéo, sả, cuốn... Du khách rất thích khi thợ dệt Phũm Soài chỉ cần hơn 10 phút là trao dải băng quấn ngang đầu trang trí rất đẹp lại có cả tên mình trên đó. Họ đã cài sẵn 24 chữ cái trong khung, “chỉ cần bấm cò là xong”. Phũm Soài còn cất giữ nhiều “độc chiêu” (phải dùng tơ chín, nhuộm không cần hóa chất mà dùng vỏ trái mặc nưa...) như kỹ thuật dệt hoa mây, lồng đèn, vân, lãnh, bông bứa... Đặc biệt khăn làm của hồi môn Icat, loại khăn dài 1,8m, ngang 1,1m có hoa văn tinh xảo. Xà rông hoa, tơ thổ cẩm, áo thổ cẩm, bóp, khăn thêu... cũng là những mặt hàng được du khách rất ưa chuộng, tìm kiếm. Có lần Phó Chủ nhiệm HTX thêu may Châu Giang Mosaish phấn khởi: “Malaysia, Indonesia... là bạn hàng truyền thống, họ đặt vải, đưa mẫu cho ta gia công. Gần đây còn có nhiều tín hiệu vui từ thị trường Mỹ, Pháp và các nước khối Hồi giáo Ả Rập...”...

Ở nơi người dân “nửa năm đạp đất đồng khô, nửa năm dầm chân trong sóng nước" này, một “con đường tơ lụa” mới xuyên Á lại sẽ hình thành, qua những làng Chăm .



      Hoa lục bình- nét văn hóa gắn liền với người Chăm nơi đây từ thuở lọt lòng
                                                    Một lớp học Chăm

                                                 Sinh hoạt thường ngày

                                                   Các chú nhox đáng yêu
                                                              Cơm nị - cà púa 



Cơm nị - cà púa là hai món ăn truyền thống của người Chăm Châu Giang. Hai món ăn này thường bổ sung cho nhau tạo nên hương vị độc đáo và cầu kỳ mang khẩu vị người Chăm.
(Thiếu nữ Chăm ở Châu Giang)
Để có món cơm nị, người ta thường nấu gạo chung với sữa, ngoài ra còn cho thêm trái nho khô tùy khẩu vị mình thích. Riêng món cà púa người Chăm dùng thịt bò chế biến rất độc đáo.
Trước khi làm món cà púa, người ta khử mùi thịt bò bằng cách đổ rượu và gừng vào, đợi chảo thật nóng cho thịt bò vào xào. Kế tiếp nạo dừa khô, một số để thắng nước cốt dừa, một số rang vàng. Cho cà ri, hành ớt muối vào (không dùng nước mắm). Cà ri ở đây có mùi vị riêng do bí quyết gia truyền của từng gia đình chế biến. Sau khi thịt bò thấm đều đổ vào nước cốt dừa hầm thật mềm, cuối cùng trộn đều dừa nạo, củ hành, rắc thêm đậu phộng rang cho đều.
Cơm nị - cà púa mang mùi ngọt béo của sữa, vị bùi của đậu phộng, vị mặn ngọt của thịt bò cùng với vị cay xè của ớt, vị ngọt của nho khô làm ngẩn ngơ lòng thực khách. Tất cả đem lại cho người ăn một cảm giác thơm ngon, thật lạ miệng, no bụng mà chẳng thấy ngán.
(Sưu tầm)

Lời bàn : Người Chăm Châu Giang là người Chăm ở vùng Châu đốc - An giang


Diantara Mereka Dan Kita

Bersumberkan dari misionari Perancis , 30 tahun sebelum kejatuhan kerajaan Champa kepada Dinasti Nguyen dari Vietnam pada tahun 1693 , terdapat ramai orang Melayu yang berkerja pendakwah dan sebagai tukang tulis di Mahkamah Champa . Tugas utama mereka adalah untuk mengajar Islam kepada penduduk Champa. Peranan orang-orang Melayu jelas kelihatan dalam mencetus kebangkitan masyarakat Champa menentang orang-orang Vietnam yang memasuki ke jajahan mereka .
Perjuangan masyarakat Champa pada tahun 1796 telah diketuai oleh seorang bangsawan Melayu bernama Tuan Phaow. Beliau dipercayai berasal dari Kelantan , kerana pengikutnya diberitahui yang beliau berasal dari negeri Serambi Mekah ( Kelantan ) . Kebanyakkan pengikutnya berasal dari masyarakat Champa dan Melayu. Perjuangan Tuan Phaow ini berpaksikan keagamaan yang kuat. Beliau mengaku telah dihantar oleh tuhan untuk menerajui perjuangan ini. Penentangan yang bertahan selama 2 tahun ini, dikalahkan oleh tentera Nguyen yang mendapat bantuan dari sebahgian pemimpin masyarakat Champa. Tuan Phaow berjaya melarikan diri ke Mekah. Penentangan ini bukti jelas bagaimana pengaruh hubungan Champa-Melayu dan agama Islam mempengaruhi pegerakan tersebut.
Hubungan Champa-Melayu Abad ke 20
Serangan tentera maharaja Vietnam dalam tahun 1835 ,telah melenyapkan Kerajaan Champa yang telah berdiri sejak hampir dua ribu tahun sebelum itu . Sejak dari itu, kawasan jajahan Kerajaan Champa yang dikenali sebagai Panduranga oleh masyrakat Champa , telah dimasukkan sebagai wilayah dalam Vietnam . Selepas dari tahun 1835 , masyarakat Champa tertakluk dibawah undang-undang Vietnam . Golongan bangsawan Champa telah menjadi orang tengah diantara masyarakat dangan gologan pemerintah Vietnam.
Lawatan diantara masyarakat Champa dan Melayu bertambah kerap pada kurun ke 20 ,kebiasaannya adalah lawatan atas dasar pertalian persaudaraan , disamping faktor kesamaan aqidah yang kuat Sehingga kini , masih terdapat lawatan ke kampung-kampung masyarakt Champa di Kemboja – untuk membantu membangunkan masyarakat tersebut dari segi ilmu keagamaan dan bantuan kemansiaan.
Menghampiri akhir Perang Vietnam dari tahun 1975 hingga 1993 , Kerajaan Malaysia mengambil tidak kurang dari 7000 orang Islam Champa – pelarian dari Vietnam dan Kemboja , menjadikan mereka satu-satunya kumpulan pelarian dari berpuluh pelarian Vietnam yang diterima masuk dan menetap di Malaysia . Malaysia yang mempunyai polisi tidak mengiktiraf taraf pelarian, telah memberi kelongaran pada kumpulan ini. Walaupun kenyataan rasmi yang di keluarkan adalah berdasarkan dasar kemanusiaan , namun kebenaran yang tidak dapat dinafikan adalah disebalik hubungan persaudaraan yang kuat Melayu-Champa yang mempunyai kesamaan dari segi budaya dan kepercayaan.

“Che”, a surname originated from Champa?

Chế Bồng Nga, Che Bunga, or Binasuor ruled Champa from 1360 - 1390 CE. Bunga is the Malay word for ‘flower’, and “Chế” is the Vietnamese transliteration of Sri, a Sanskrit title of veneration often preceding the name of a Cham nobleman. After the conquest of Champa, the Vietnamese assigned the surname “Chế” to all persons of Cham origin. Also known as The Red King, Che Bong Nga was the last strong king of the kingdom of Champa. In Vietnamese stories he is called The Red King. Chế Bồng Nga apparently managed to unite the Cham lands under his rule and by 1372 he was strong enough to attack Vietnam from the sea. Under the great general, Cham forces raided the Vietnamese city of Thang Long twice, in 1371 and 1378. The Chams forced the king of Dai Viet to move the statues at his ancestors’ tombs at Thang Long to the modern Hai Duong province in 1381. Following these victories, Che Bong Nga threatened to retake all of the lost Cham territories. Additionally, he threatened to take the two southern Vietnamese provinces of Nghe An and Thanh Hoa. At the time, Champa posed a real threat to the existence of the late Tran Dynasty in Dai Viet. The Vietnamese therefore fled from them, and Vietnamese commanders, including Ho Quy Ly, future founder of the Ho Dynasty, frequently drew back when facing them in combat. In 1383, the Chams even laid siege to the Vietnamese capital of Thang Long (now Hanoi) for six months. Che Bong Nga died in 1390, repordtly in a naval battle with the Vietnamese. The events of Che Bong Nga’s reign and invasion of Vietnam spelled the end of the Tran Dynasty in Vietnam, which was revealed as weak and ineffective in the face of the Cham General.
Taken from:
  1. ^ (Vietnam, Trials and Tribulations of a Nation D. R. SarDesai, ppg 33-34, 1988)
  2. ^ Tana, Li. Nguyẽ̂N Cochinchina: Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries. SEAP Publications.

The Chams: Survivors of a Lost Civilisation


Text copyright © Andrew Forbes / CPA 2001.
This article was originally published in the Bangkok Post, 2001.
The Cham are perhaps the oldest and least-known people of Indochina. Inheritors of a proud tradition that stretches back almost two thousand years, Champa was the first Indianised Kingdom in Indochina. Its founding predates both the beginnings of Cambodia in about 550 AD, and the first major expansion of the Vietnamese south from the Red River delta of Tonkin in the mid-10th century.
Our earliest records of Champa are Chinese, dating from 192 AD. In these dynastic annals the people of Lin-yi, or Champa, are described as having 'dark skin, deep-set eyes, turned up noses and frizzy hair', trends which are still often recognisable in the modern descendants of the Chams today. The annalist records that the Chams dress 'in a single piece of cotton or silk wrapped about the body. They wear their hair in a bun on the top of their head, and they pierce their ears in order to wear small metal rings. They are very clean. They wash themselves several times each day, wear perfume, and rub their bodies with a lotion made of camphor and musk'.
At the peak of their power, about 12 centuries ago, the Chams controlled rich and fertile lands stretching from north of Hue, in central Annam, to the Mekong Delta in Cochinchina. Yet today Vietnamese cities like Da Nang and Nha Trang dominate these regions. Only mysterious brick temples, known familiarly as "Cham Towers", dot the skyline around Thap Cham and Po Nagar, Cha Ban and My Son, whilst in Cambodia the name of an eastern province and its capital, Kampong Cham, remain as mute testimony to the passing of a kingdom. The question arises, what happened? And where are the Chams - those that survive - today?
The origin of the Chams, like that of most peoples, is lost in the mists of time. Unlike most other inhabitants of Southeast Asia north of the Malay peninsula, they are an Austronesian people, more closely linked with the islands of the Malay-Indonesian world and the Philippines than with the mainland. We can surmise - but no more - that at some distant time they migrated by sea from the Indonesian Archipelago and settled in what is now central Vietnam.
The bases of what we know of early Cham society would seem to bear out this hypothesis. Unlike their Viet and Khmer neighbours, whose societies are based on intensive rice cultivation, the Cham seem to have had little time for agriculture. Champa's prosperity was based on maritime trade - and more than probably on a degree of piracy. Champa's principal exports seem to have been slaves (mainly prisoners of war) and sandalwood. This latter commodity, which was of great importance to the intensely religious societies of early Southeast Asia, brought considerable riches.
Silver Tower, Quy Nhon.
Reinhard Hohler / CPA
Silver Tower, Quy Nhon.
Much of this wealth seems to have been expended on building "Cham Towers" - exquisitely decorated, brick-and-sandstone keeps and temples dedicated to the first major religion of Champa, a form of Shaivite Hinduism which was introduced from India by sea during the early centuries AD. Even today, despite the ravages of time, these symbols of Cham civilisation remain impressive, not least for their masterful masonry. Layer upon layer of hard-baked brick are fitted together apparently without mortar, and yet so precisely that it is all but impossible to insert a knife blade between any two sections.
The most important and extensive Cham tower complex was raised at My Son, Champa's pre-eminent religious centre, about 50 kilometres west of Da Nang. Simhapura, the political capital - known today as Tra Kieu - was located nearby, about half-way between Da Nang and My Son.
Tran Ky Phuong, Director of Vietnam's excellently-appointed Cham Museum in Da Nang, explains that although there are many Cham temples and towers scattered throughout coastal southern Vietnam, the main reason there is no single major site comparable to Angkor or Pagan is because 'the Cham were traders. As such they did not have a strong attachment to the land'. Yet it was this very proximity to the sea which brought Hinduism to the Chams - their first world religious tradition - just as it would bring their second, Islam.
Arab merchants reached Guangdong in southern China as early as the 7th century AD, and it seems clear that they stopped along the central Vietnamese coast en route for provisions and trade. The first concrete evidence of such intercourse - and of an Islamic presence in Vietnam - is a 10th century stone pillar inscribed in Arabic which was found near the coastal town of Phan Rang.
As elsewhere in Southeast Asia, from Aceh to Sulu, Islam seems to have spread peacefully through commerce and intermarriage. The egalitarian message of the new religion may have appealed to the poorer classes, Hinduism being most closely associated with the Cham aristocracy. Be this as it may, the Cham Kingdom was destined to lose its independence before the new religion could effect a full conversion.
With the emergence of the powerful Cambodian Kingdom of Angkor in about 800 AD, and the renewal of Vietnam's territorial expansion to the south just over a century later, Champa found itself hopelessly outnumbered and caught in a politico-cultural vice between Khmer Buddhism and Vietnamese Confucianism. This vice gradually tightened with the Vietnamese, in particular, pushing the Chams south towards the Mekong Delta.
In 1471 the outnumbered Chams suffered a terrible defeat at the hands of the Vietnamese. 60,000 of their soldiers were reportedly killed, and another 60,000 carried into captivity. Champa was reduced to a small sliver of territory in the region of Nha Trang, which survived until 1720, when the king and many of his subjects fled to neighbouring Cambodia rather than submit to Vietnamese conquest. The Cham Diaspora dates from this period, and the diverse Cham communities later established in Cambodia, Thailand and Laos can trace their common origin to this catastrophe.
Today there are about 77,000 Chams in Vietnam, living mainly in the coastal provinces of Thuan Hai, Khanh Hoa and Phu Yen, as well as in the Mekong Delta province of Chau Doc. Although sharing the same linguistic and historical tradition, they remain divided into two quite distinct religious communities, the Hindu Chams and the Cham Bani, or Muslims. The latter are easily distinguished by the men's preferred headgear - a crimson fez with a long golden tassel, or white Muslim prayer cap.
Cham drummer calling the faithful to prayer.
David Henley / CPA
Cham drummer calling the faithful to prayer.
The two groups live peacefully side-by-side, as they do with their Viet neighbours, but there is no marriage between them. This rigid taboo is deeply rooted in the past, as is underlined in an epic poem of the Cham, Araya Cham Ni, which relates the tragic outcome of a love affair between a Hindu boy and a Muslim girl. In a nominally atheist society, it is a reflection of the continuing power of religion that such spiritual differences continue to divide a people which has survived Viet conquest, French colonialism, and American intervention in Indochina.