Rup halin ( about me)

Ảnh của tôi
Dalam tanâh Yuen hu anâk Cam saong nagar Cam

Sang/Home

Hiển thị các bài đăng có nhãn Adat Cham (Cham culture). Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Adat Cham (Cham culture). Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 25 tháng 2, 2011

Dấu vết Chămpa ở Hoàng thành Thăng Long

Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long vừa được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới hôm 1-8. Nhân sự kiện này, thử trở lại với những cấu kiện kiến trúc bằng đá hay nghệ thuật trang trí mang phong cách Apsara… để hình dung về sự hiện diện của văn hóa Chăm.
alt
Đầu chim uyên ương bằng đất nung trang trí trên cung điện thời Lý - Trần.
Voi Chăm ở Thăng Long
Với vai trò là trung tâm chính trị, văn hóa của quốc gia Đại Việt, kinh thành Thăng Long là nơi còn để lại nhiều dấu ấn huy hoàng có liên quan đến voi. Và cũng từ con vật tinh khôn này đã lưu truyền nhiều câu chuyện thú vị về mối quan hệ giữa Đại Việt và Chămpa. Các triều đại như Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê... thường dùng voi trong sinh hoạt cung đình. Đến thời Nguyễn, voi được dùng trong chiến đấu nên tượng binh có số lượng nhiều hơn. Voi được mang đến kinh thành Thăng Long từ nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu là vật triều cống cũng như nguồn chiến lợi phẩm thu được. Vương quốc Chămpa cũng từng nổi tiếng với việc dùng voi trong chiến trận, hoạt động bang giao, buôn bán và sinh hoạt cung đình. Sử cũ ghi lại nhiều sự kiện tiến cống của Chămpa cho Đại Việt. Cống phẩm của Chămpa phần lớn là voi trắng. Thời nhà Lý, liên tục từ năm 1068 đến năm 1112, cứ đến mùa thu tháng 8 năm nào Chămpa cũng cử người đi sứ tiến cống voi trắng cho nước Đại Việt. Thời nhà Trần, vào mùa xuân các năm 1269, 1279, 1307, Chămpa cũng tiến cống voi trắng cho Đại Việt. Đặc biệt, sử cũ cũng ghi rằng vào mùa xuân năm 1352, vua Chămpa cử sứ giả tên là Chế Nỗ mang cống vật gồm voi trắng, ngựa trắng... dâng cho Đại Việt.
alt
Vũ nữ Apsara trang trí trên bệ tháp thời Lý.
Voi xuất hiện với màu sắc đầy tính huyền thoại trong các truyền thuyết ở đất Thăng Long. Chùa Phổ Giác ở phố Ngô Sĩ Liên được dân gian gọi chùa Tàu (tàu ngựa, tàu voi), bởi lẽ đây là nơi chăm sóc, nuôi dưỡng voi ở kinh thành Thăng Long. Sau những lần chinh phạt Chiêm Thành số lượng voi mang về Đại Việt cũng không nhỏ. Số lượng voi đông đúc vẫn được duy trì cho đến năm 1688 khi mà W.Dampier vẫn còn thấy “số lượng voi Thăng Long vào khoảng 150 đến 200 con, chúng được cho uống nước và tắm hàng ngày trên dòng sông (sông Hồng)”. Sách sử cho biết từng có một vị hoàng thân nhà Trần cưỡi voi tới khu vực người Chăm gần kinh thành chơi liền ba ngày. Ngôi chùa Tàu được dựng lên ngoài chức năng ban đầu là tàu voi còn là nơi thể hiện tâm linh của người Chăm. Trong tuyển tập văn bia Hà Nội có nhắc đến “miếu Dương Võ”, nơi thờ 3 người quản tượng giỏi chuyên dạy voi đực ở phương Nam (Chămpa).
Dấu tích Chăm ở Hoàng thành
Sự góp mặt của văn hóa Chăm ở kinh thành Thăng Long đã làm phong phú thêm và khẳng định sự dung hợp, thâu nhận các giá trị, tinh hoa văn hóa vào quốc gia Đại Việt thời bấy giờ. Điều đó đã làm cho Hoàng thành Thăng Long thêm tỏa sáng, xứng đáng là di sản văn hóa của nhân loại mà UNESCO đã công nhận, khi cả nước hướng đến Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long.
Khi khai quật di tích Hoàng thành Thăng Long, các nhà khảo cổ học đã phát hiện nhiều dấu tích Chămpa, khẳng định sự có mặt của người thợ Chăm trên Hoàng thành Thăng Long là lịch sử đã chép. Từ những dấu vết kiến trúc ở hố khai quật, các nhà khảo cổ đã phát hiện một phần ngôi tháp nhiều tầng bằng sứ thời Lý với nghệ thuật trang trí khá độc đáo gồm rồng, cánh sen và các phù điêu tiên nữ bay nhảy - phảng phất chút ít phong cách Apsara trong nghệ thuật Chămpa. Những phù điêu bằng sa thạch ở Trà Kiệu - Quảng Nam (thế kỷ X) có tư thế và động tác giống với các vũ nữ trên các ô hộc của mảnh tháp trắng thời Lý ở Hoàng thành Thăng Long. Có thể xem đây là một bằng chứng khảo cổ học về mối quan hệ gắn bó Việt - Chăm từ sau thế kỷ X.
alt
Thần Siva ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

alt
Viên gạch có chữ Chăm cổ.
Trên kinh thành Thăng Long người ta có thể nhận thấy rất nhiều cấu kiện kiến trúc bằng đá, chủ đạo là sa thạch. Đây là một loại đá rất gần gũi với người thợ Chămpa, loại đá không có thớ, dễ đục đẽo, tạo hình. Gần như toàn bộ các tảng kê cột của kiến trúc Hoàng thành đều bằng đá và được chạm hoa sen rất đẹp, nhất là những tảng kê cột thời Lý. Những bệ tượng tạo hình rồng, đặc biệt là những bậc lan can trang trí rồng, phượng, sóng nước, vân mây cực kỳ tinh xảo của thời Lý chắc chắn có sự can thiệp của người thợ - nghệ sĩ Chămpa. Những nghệ sĩ Chăm mặc dầu thể hiện ý tưởng của người Việt nhưng trên từng nét chạm, nhát đục, vết mài xoa tạo nên những rồng, phượng... của Thăng Long vẫn mang đậm nét những Makara, Garuda, Nagar, Hamsa, Kala... mà họ từng tạo tác ở các đền tháp Chăm quê hương mình. Hình ảnh về chim uyên ương trên những viên ngói úp nóc (thời Lý) được thể hiện hao hao với ngỗng thần Hamsa (vật cưỡi của thần Brahma) trong điêu khắc Chăm. Hai chiếc cánh uyên ương xòe rộng như trong tư thế múa, phần đầu cánh được xoắn lại tạo nên hình cánh cung giống với những đôi cánh của thần điểu Garuda. Viên gạch tháp có tượng thần điểu Garuda là bức tượng hiếm hoi bắt gặp được trong những hố khai quật ở khu vực Văn Lang, Ba Đình, hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam với bố cục tạo hình mang đậm phong cách Chăm. Hai nửa viên gạch duy nhất có khắc ký tự Phạn (Sanskrit) được phát hiện ở Hoàng thành Thăng Long. Hai viên gạch này được xem là bằng chứng về sự góp mặt, tham gia xây dựng hay sản xuất vật liệu cho những công trình kiến trúc cung đình đương thời của người Chăm. Qua đó chứng tỏ người Chăm đã mang đến kinh thành kỹ thuật làm ra những viên gạch đỏ tươi, tạo hình đẹp, cùng với màu đỏ của bộ mái rất Việt xây cất lên những kiến trúc lộng lẫy của đất Thăng Long. Trong hệ thống giếng nước mà các nhà khảo cổ học tìm thấy ở khu khai quật Hoàng thành Thăng Long, có một giếng nước mang niên đại vào thời nhà Trần thể hiện rõ phong cách và kỹ thuật Chăm, cụ thể như cách xếp gạch tựa như các giếng Chăm ở miền Trung.
alt
Giếng cổ tại Hoàng thành Thăng Long.
Qua các cuộc khai quật khảo cổ học, nhất là phát hiện di tích Hoàng thành Thăng Long đã khẳng định có những dấu vết văn hóa Chăm ở Thăng Long xưa và Hà Nội nay. Điều này đã phản ánh sống động mối quan hệ Việt- Chăm lâu dài trong trong lịch sử. Cùng với những hiện vật phát hiện từ các cuộc khai quật khảo cổ học và hiện vật được chuyển giao, kế thừa từ các bảo tàng và nhiều nguồn khác nhau, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đang trưng bày một bộ sưu tập hiện vật điêu khắc Chămpa khá độc đáo để du khách đến Hà Nội có thể chiêm ngưỡng những kiệt tác của dân tộc Chăm.
TẤN VỊNH

Thứ Năm, 24 tháng 2, 2011

Vài nhận định về chiếc áo dài Chăm (ao atah) của người Chăm An giang

Putra Champa
    Từ thuở xa xưa, không biết từ khi nào mà những thiếu nữ Chăm đã biết làm đẹp bằng những bộ áo dài thật duyên , kính đáo. Áo dài Chăm rất khác so với áo dài của người Kinh. Điều dễ thấy nhất về sự khác biệt đó là áo dài chăm không xẻ tà, và khi mặc phải tròng từ trên xuống.
Chiếc áo dài nguyên bản của người Chăm Pandurangga
    Trải qua những giai đoạn thâm trầm của lịch sử, dân tộc Chăm đã phải chia năm xẻ bảy, li tán tha hương đến khắp mọi nơi. Dần dà, sự ảnh hưởngcủa yếu  tố bản địa ( nơi dừng chân mới của những đứa con chăm tha hương) đã tác động mạnh mẽ và làm thay đổi đi phần nào bản sắc thuần túy của họ vốn đã được hun đúc ngàn đời từ mảnh đất tổ tiên yêu thương.
    Người Chăm An giang cũng bị rơi vào vòng xoáy hiển nhiên ấy. Sự ảnh hưởng đó bao trùm lên đời sống tâm linh và cả nét văn hóa ngày thường…nhưng ở đây tôi chỉ xin phân tích vấn đề về chiếc áo dài Chăm. Thật ra áo dài Chăm An giang và áo dài truyền thống nguyên bản của người Chăm Pandurangga ( Thuận Hải) có gì giống và khác?
     Cũng như lịch sử của dân tộc Champa, chiếc áo dài của người Chăm An giang cũng thế .Không có( hoặc hiếm) một tư liệu cổ nào ghi chép hay hình vẽ để lại của chiếc áo dài xưa mà người Chăm An giang đã mặc. Nhưng chúng ta có thể dựa vào những tấm hình trắng đen chụp vào khoảng cuối tk19 đầu tk20, những tấm ảnh kĩ niệm này vốn được giữ kĩ ở những gia đình Chăm bề thế (vì chỉ có người giàu mới chụp ảnh để lại). Xét về hình dạng, áo dài Chăm An giang vào thời ấy không khác gì mấy so với áo dài của người Chăm Pandurangga ngày nay. Vẫn là phần trên( thân áo ) rộng có thể tròng vào khi mặc, cổ tròn, phần dưới hơi xòe ra để dễ việc đi lại. Xét nghĩ, kiểu cách áo dài này là kiểu áo dài mặc thường ngày, dễ dàng trong sinh hoạt , hơi khác một chút so với kiểu áo dài ôm của các thiếu nữ khi đi dự tiệc hay lễ hội. Kiểu áo dài này chúng ta vẫn còn bắt gặp ở những cụ già  Chăm tại miền đất Pandurangga ngày nay.
Áo dài Chăm An giang xưa(trái) và áo dài trong sinh hoạt thường ngày của người Chăm ở Pandurangga(phải) ngày nay
      Trãi qua nhiều thời kì, và nhất là thời kì mở cửa. Khi Việt Nam đón nhận những luồng văn hóa ngoại nhập. Xã hội Chăm cũng bị ảnh hưởng không kém. Khác xa so với xã hội người Việt vốn chuộng theo mốt Tây với những bộ váy đầm. Người Chăm An giang lại ấn tượng và bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nền văn hóa Mã Lai (Malaysia/ Indonesia). Thật ra vùng Châu Đốc- An giang, mà cụ thể là làng Châu Giang vốn là nơi định cư từ trước đó của tộc người Jawa ( Mã Lai/ indo). chúng ta hãy thử đặt câu hỏi, khi người Chăm di cư từ Thuận Hải sang Campuchia và từ Campuchia sang đây., tại sao họ lại chọn Châu Giang làm nơi dừng chân đầu tiên?. Vì vốn dĩ những nhóm Chăm này họ theo Islam và tộc người Jawa cũng theo tôn giáo giống như họ. Cộng thêm nét văn hóa Jawa và Chăm vốn có cùng nguồn gốc Nam Đảo ( Melayo-polinesian)  nên có nhiều nét rất giống nhau. Vì thế họ mau chống cộng cư và lâu dần họ ảnh hưởng lẫn nhau tạo thành dòng giống Chăm mới mà trong đó, nét văn hóa Chăm là chủ đạo ( vì người Chăm vốn đông hơn ). Bước sang thời kì thuộc địa, thông thương qua lại giữa những quốc gia khác nhau đã trở nên dễ dàng nhờ có những phương tiện đi lại mới. Điều này đã tạo điều kiện nhiều hơn cho người Chăm một lần nữa được tiếp xúc với sắc dân Jawa (Malay/Indo). Và cũng từ đó chiếc áo dài Chăm An giang dần dần cải biến rất nhiều và dường như hoàn toàn giống bới Baju Kurung của người Mã lai. Baju kurung cũng có hình dạng như chiếc áo dài Chăm( vì vốn hai kiểu áo dài này có chung nguồn gốc Nam Đảo) không xẻ tà, tròng đầu, cổ tròn…nhưng ở cổ có nét xẻ sâu , thắt nút và nhiều mảnh ghép ở phần thân…
Áo dài Chăm biến đổi( trái) và Baju kurung của Malay( phải)
          Sau năm 1975, tình hình đất nước đổi mới. Các xóm làng Chăm không còn sống “ẩn cư” bao bọc bởi những hàng rào xung quanh nữa. Họ dần dần mở cửa, gia lưu và tiếp thu nhiều cái mới từ cộng đồng người Việt vốn đã sống bao quanh họ từ mấy trăm năm nay. Chiếc áo dài Chăm một lần nữa lại bị biến tấu lai dần chiếc áo dài của người Việt. Chúng có cổ đứng, hàng nút từ cổ chéo sang eo, không tròng đầu, nhưng vẫn giữ được nét kín đáo Chăm đó là không xẻ tà ( hoặc chỉ xẻ một phần rất nhỏ để dễ đi lại). Dần dần sự tác động mạnh mẽ của những kiểu thời trang áo dài Việt, với tính chất ôm sát người làm lộ đường nét phụ nữ quá bắt mắc. Các cô gái Chăm ngày nay chạy theo trào lưu, thế là những chiếc áo dài Việt 100% ra đời và được ưa chuộng trong những buổi tiệc hay lễ hội. Cái còn lại được gọi là nét Chăm trong chiếc áo chỉ là chiếc váy( thay vì mặc quần).
Kiểu áo dài Chăm xẻ tà như áo dài người Kinh(trái) và Chiếc áo không xẻ tà nhưng lại có cổ đứng và hàng nút từ cổ sang eo(phải)
        Tuy nhiên những kiểu áo dài chăm theo từng thời kì ấy vẫn tồn tại, tuy không chuuộng bằng áo dài “thời đại” ấy.

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2011

Khăn "Khanh ma om": Vật bất lý thân của phụ nữ An Giang

      Khăn "Khanh ma om" (còn gọi là khăn Ma-tơ-ra) của phụ nữ Chăm An Giang xuất phát từ các dân tộc theo đạo Hồi, nguyên mẫu là chiếc khăn hình vuông và dần dần biến tấu cho phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ của các thời kỳ. Chiếc khăn "Khanh ma om" có chiều dài khoảng 1,5 – 1,6 m, chiều ngang 50 cm, thường được làm bằng voan, ren hoặc bất cứ loại vải gì. Khác với những người đạo Hồi Ả rập chuộng hai màu đen trắng, chiếc khăn của phụ nữ Chăm có đủ màu sắc, điểm xuyết bằng các hoa văn hình con sò, bông hoa… bằng chỉ thêu màu, kim tuyến hay cườm dọc theo mép khăn.

Chiếc khăn Ma-aom (nữ) và chiếc Kapiah( nam) của người Chăm Islam
     Khăn "Khanh ma om" không chỉ để che nắng, mà đủ dài để quàng quanh cổ và vắt qua vai, vừa có thể che tóc, che cổ và một phần trước ngực, hầu như để tránh đi ánh mắt tò mò của những người khác giới.
     Khi ở nhà, người phụ nữ Chăm thường đội những chiếc khăn đơn giản, ít màu sắc. Nhưng khi đi dự tiệc hay đám cưới, họ thường mang những chiếc khăn có màu sáng lộng lẫy. Khăn "Khanh ma om" là vật bất ly thân của phụ nữ Chăm An Giang; bất cứ ở đâu làm gì người phụ nữ cũng không bỏ chiếc khăn ấy ra được, trừ lúc ngủ; họ rất yêu và tự hào với chiếc khăn truyền thống của mình.

 Những hình ảnh về thiếu nữ Chăm Islam trong chiếc khăn Ma-aom




Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011

Nhà ở của người Chăm


Người Chăm có trên 8 vạn người, cư trú ở các tỉnh: Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên, Nghĩa Bình, Phú Khánh, Phan Rang, An Giang, Đồng Nai, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng bào có một số nhóm địa phương như nhóm Chăm H’roi ở Phú Khánh, nhóm Chăm Pôông ở Bắc Bình…
Người Chăm có hai tôn giáo chính: Bà la môn và Bà ni ( hồi giáo bản địa hoá) và Chăm Hồi giáo (islam) ở An Giang và một bộ phận Chăm ở Ninh Thuận. Đặc điểm tôn giáo này đã tạo nên những nét đặc trưng riêng biệt trong văn hoá tộc người Chăm ở Việt Nam .
Người Chăm ở huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận sống thành từng làng, mỗi làng có khoảng 100 gia đình sống quần tụ theo dòng tộc. Những gia đình người Chăm có nhiều thế hệ sống chung trong một khuôn viên lớn, trong đó có nhiều gia đình nhỏ. Xung quanh khuôn viên có tường bao bọc, cổng quay về hướng Nam hay Tây Nam. Nhà ở được xây cất theo một trật tự nhất định gồm: Nhà khách, nhà của cha mẹ, nhà của những người con chưa lập gia đình, nhà của những người con gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục. Nhà chính là nhà cuối cùng dành cho cô út cưới chồng và thừa kế.
Nhà cửa của người Chăm ở An Giang là loại nhà sàn làm bằng gỗ, mái lợp ngói. Gầm sàn rất cao để tránh mùa nước nổi. Nhà thường quay xuống sông, kinh, rạch hoặc quay ra lộ đường cái, nhà làm 4 mái, có hiên trước, hiên sau và có hai cầu thang lên xuống hiên thường rộng từ 2 – 3m và dài từ 11 – 12 m, chiều ngang nhà là 5 – 6m. Nhà có 2 cầu thang, cầu thang ở phía trước nhà, rộng 1m, có 9 - 11 bậc tuỳ thuộc vào chiều cao của gầm nhà sàn. Cầu thang phía sau nhà dành cho phụ nữ đi lại.
Mặt bằng sinh họat nhà người Chăm ISlam ở An Giang gồm có một hành lang hiên phía trước nhà rộng 2m, dài 5m, làm nơi để khung dệt vải khi mùa nước nổi; một hành lang ở hiên sau nhà, dùng để nông cụ, nhốt gà vịt khi mùa nước nổi và đặt bếp
Trong nhà có không gian 2x5m, dành tiếp khách và làm nơi ngủ của nam giới, buồng của các cô gái được ngăn riêng, tạo thành lối hành lang chung ở giữa nhà. Trong nhà còn có một góc sàn thưa, để tắm rửa cho người chết và niệm trước khi đem đi chôn cất.

Chăm Islam, xin đừng phủ nhận Kate!!!

Đứng trên phương diện văn hóa, Katê là một lễ hội của người Chăm Ahier, nhưng lễ hội này đã trở thành một di sản văn hóa của toàn thể dân tộc Champa. Và lễ Katê này có giá trị văn hóa tương ứng với các lễ hội khác của vương quốc Champa như lễ Ramavan, Rija Nagar, Suk Ayeng, v.v... hay một số lễ của Chăm Islam (Hồi Giáo chính thống).

Putra Champa
Theo quan điểm của tôi, bảo tồn truyền thống lễ hội Katê, Ramavan, Rija Nagar, Suk Ayeng, v.v... không phải chúng ta tin vào thần thánh, nhưng là bảo tồn các giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Chăm Ahier và người Chăm Awal.
Katê hôm nay đã trở thành một trong lễ hội truyền thống của Champa, cũng như các lễ hội khác của dân tộc Chăm Bani, dân tộc Raglai, Churu, Radhe, Jarai, v.v... Tất cả các lễ hội này là yếu tố cấu tạo thành nền văn minh Champa. Chúng ta phải tự hào là chúng ta có một nền văn minh rất đa dạng và đa hình thức.
Dân tộc Champa là dân tộc đa tôn giáo. Nhưng không vì tín ngưỡng riêng biệt của mình mà chúng ta lại phủ nhận những yếu tố văn hóa Champa không liên hệ đến tôn giáo của chúng ta được. Vì rằng, tôn giáo thuộc lòng tin thiêng liêng của cá nhân; Văn hóa và lịch sử thuộc lòng tin thiêng liêng tập thể của một dân tộc. Chúng ta có thể tin và tự hào về bất cứ một tôn giáo hay một tín ngưỡng nào, nhưng chúng ta không thể phủ nhận mình là dân tộc Champa.
Văn hóa là linh hồn của một dân tộc. Mất văn hóa có nghĩa là mất tính dân tộc. Tìm hiểu về văn hóa của dân tộc là bổn phận và trách nhiệm của mỗi người dân Champa. Hiểu và thực hiện đúng ý nghĩa và giá trị văn hóa Champa cũng là một nghĩa vụ nhằm góp phần chứng minh rằng dân tộc Champa chúng ta có một nền văn hóa và văn minh riêng biệt.
Yếu tố văn hóa của dân tộc là một vấn đề vô cùng quan trọng. Nó phản ảnh trực tiếp giữa quá khứ và hiện tại, giữa xưa và nay. Không vì Champa vong quốc mà ai cũng muốn định nghĩa Katê theo quan điểm riêng tư của mình, dựa trên chủ thuyết tôn giáo của mình hay dựa theo những dòng ý thức vô cơ sở khoa học được.

Cuối cùng chúng ta không thể quên câu châm ngôn mà các bậc tiền nhân chúng ta để lại đó là : “Ia hu halau, kayau hu gha” (nước có nguồn, cây có cội). Chúng ta hãy nhận diện Katê một cách đúng đắn hơn để từ đó chúng ta cùng nhau góp sức để đưa lễ hội Katê cũng như các lễ hội khác tìm về với cội nguồn, gốc rễ, đưa các lễ hội này về đúng vị trí trong một ngôi vườn văn hóa Champa. Một ngôi vườn với ngàn hương trăm sắc đẹp hơn một ngôi vườn chỉ có một loài hoa.
Putra Champa

NHỮNG YẾU TỐ CHĂM PA TRONG VĂN HOÁ MIỀN TRUNG VIỆT NAM


Trong bài này, tôi ít bàn nhũng vấn đề sử sách lưu lại vì thực sự, về văn hóa xã hội, nhất là sinh hoạt trong đời sống thường nhật, không mấy khi sách vở ghi chép.Vùng biển Đà Nẵng có thờ "Lồi phi phu nhân", "Thiên Yana". ở thôn quê thì phổ biến lễ Tá thổ với những bài văn ghi tên những chủ "Ngung - Man - Nương" và tên một số tiên dân khác :"Lồi, lạc thương vong

Chăm - Chợ - Mọi rợ ... "Theo Dương Văn An, người giới thiệu sách Ô Châu cận lục (1555) vào thời ấy, tức là sau vài thế kỷ tiếp thu Điện Bàn phủ Triệu Phong, thế mà nhiều làng vẫn còn mặc đồ Chăm. Mặc đồ Chăm, đầu thế kỷ XX không thấy chứ màu Chàm, màu Chiêm Thành thì hầu hết nông dân Quảng Nam vẫn ưa dùng theo truyền thống của "dân tỉnh Chăm" (theo cách gọi của người Pháp).

Cũng như ngươi Việt, người Chăm lấy việc ruộng đồng làm gốc (dĩ nông vi bản). Những đồng bằng rộng lớn ngày nay ở Đại Lộc, Hòa Vang, Điện Bàn, Duy Xuyên... đa số có thể nghĩ là do người Champà khai phá trước. Vì, nơi nào có kinh đô thì phải có hậu phương kinh tế vững. Nếu không có, phải tạo ra cho có, còn không, như bị vây hãm hay cấm vận vậy ? Nói tới làm ruộng phải có trâu bò. Thế nhưng ở Bắc Quảng Nam, khi người thợ cày muốn điều khiển trâu, bò thì dùng hai chữ "Hò rì, hò tắc", còn người phía Nam Quảng Nam lại dùng "ví, thá" ?Trâu, bò cũng như voi, ngựa, mua ở nơi nào phải dùng tiếng người ta đã dạy con vật đó lúc sơ sinh. Hơn nữa, trâu bò không dễ gì mua ở bắc vào, vì lạ nước, chúng sẽ "đổ", nghĩa là bỏ ăn, chết. Vậy hai thuật ngữ dùng để lái con vật sản xuất ấy tại sao khác nhau ? Nếu không phải trâu, bò mang ở Bắc vào (tôi chưa dám xác định) thì đây là vấn dề, khi nghiên cứu kỹ, có thể giúp ta tìm ra manh mối nguồn gốc cư dân cũ. Song song với thuật ngữ "lái" trâu bò, cũng cần biết thêm cái cày ở Bắc Quảng Nam là cày tranh, loại cày có má lớn, vừa xẻ đất vừa trở đất rất tiến bộ, bỏ xa loại cày chìa vôi ở phía Nam Quảng Nam chỉ dùng để xẻ đất mà thôi. Cày bừa là dụng cụ làm ruộng ở Trung Bộ, trong dĩ vãng đã vượt Bắc bộ nhiều phương diện. Sự kiện này phải chăng có chịu ảnh hưởng sâu đậm của Champà trước rồi Hoa sau ? Trong An chí luợc của Lê Tắc (Trần) có ghi chép lại Giao châu ký của Lưu Hân Kỳ : "Một năm tám lượt tằm (Tằm nuôi ở Nhật Nam - Bình Trị Thiên và một số vùng phía Nam thì có giống lớn). Từ tháng ba đến tháng tám đều có nuôi tằm, lấy tơ dệt lụa". Như thế, thời Champà nông tang cũng rất thịnh.

Có người nghĩ : khi chúa Nguyễn vào Nam, nhà chúa muốn phân biệt dân Nguyễn và dân Trịnh bằng cách thay đổi y phục, mũ, nón, giày. Tôi nghĩ hoàn toàn không phải vì lý do đó mà chủ yếu vì thực dụng. Chẳng hạn, nói cái nón : Nón Bắc (các vùng ở phía Bắc) là nón thúng tiện dùng để đi lại, cấy lúa hoặc nhổ cỏ dễ dàng. Trái lai nón chóp rất tiện dụng. Lại cũng không phải nón chóp vùng Nam Trung Quốc mà phần dưới xòe ra. Nó chính là loại nón chóp vùng Mã Lai, trong đó có người Champà - nón đội của đàn ông giống nón Quảng, Huế... Nón đàn bà giống hệt loại nón ở Gò Găng, Bình Định mà thời xưa các quan phủ huyện, chánh phó tổng hay dùng.

Về áo quần thì màu Chàm là dấu ấn sâu sắc kéo dài qua nhiều thế kỷ như đã nói ở trên.

Chúng ta dễ nhận thấy ghe, thuyền của Mã Lai giống hệt một số ghe ở các tỉnh miền Trung. Trong bài : "Ghe hầu Quảng Nam và các tỉnh phương Nam " của Nguyễn Bội Liên và Hồ Phước Tâm (Nghiên cứu lịch sử địa phương và chuyên ngành QN-ĐN - 1981) có phân tích rõ ghe này chịu ảnh hưởng của Chiêm Thành. Ghe bầu (theo Trần Kỳ Phương trong Một vài nhận xét về những yếu tố Mã Lai trong văn hóa Champà và Trung Việt Nam", bản đánh máy đọc ở Mã Lai tháng 9-1991) là một biến âm của từ "gay" và "Prahu" để chỉ ghe buồm Mã Lai.Chẳng cần phải nói dài dòng và tỉ mỉ, cứ nhìn qua hình thể các thuyền ở miền Bắc Việt Nam, Trung Quốc và các ghe ở Quảng Nam với vùng Mã Lai - Đông Nam á, lập tức người ta phân biệt được ngay "thuyền Bắc và ghe Nam". Ghe bầu là một bước phát triển lớn của ngành hàng hải Việt Nam.Về âm nhạc, theo Đại Việt sử ký toàn thư, đời Lý, vua khiến nhạc công đặt nhạc khúc gọi là điệu Chiêm Thành. Tiếng nhạc trong trẻo mà ai oán, thảm thương nghe muốn khóc. Học giả Đào Duy Anh nghĩ là những điệu nhạc cung nam ngày nay gốc gác từ đó.

Trong nhạc cụ của Chiêm Thành có một nhạc khí nay vẫn lưu truyền mà Lê Tắc, tác giả tập sách mới dẫn, gọi là phạn sĩ (trống cơm); đó là loại trống dài, hai đầu bịt và đặc biệt, trươcc khi vỗ, người ta ép hai cục cơm (hay xôi?) vào hai đầu trống. Tiếng trống trong và buồn. Tôi không hiểu tại sao các bạn hát bội kính trọng trống này lắm, thờ nó ở chỗ cao nhất, có tính thần linh. Chỉ cần nghe nhạc "thính phòng" và "ca Huế" thì biết âm nhạc Chiêm Thành ảnh hưởng đến Việt Nam như thế nào. Chuyện giữa Việt và Champa dài lắm - e phải viết thành những bộ sách.

Để tạm kết thúc, tôi dẫn ra đây một tục lệ được tôn kính của nhiều tỉnh miền Trung. Đó là lễ Tá thổ. Người Việt tự hào mình ăn ở chung thủy, qua lễ Tá thổ, tôi thấy điều ấy đúng.Lễ được cử hành vào tháng ba. Nhưng nhà khá giả thì nhờ thầy cúng hay nhờ sư viết lá sớ. Người ta vái các cô hồn, cô bác, đạo lộ, khuôn viên. Phẩm vật có gạo, muối, hột nổ, thịt heo, thịt gà (thường là nguyên con gà để coi giò gà)... Nhà giàu thì cúng nguyên cả "cái thủ" heo. Mâm cơm có cá chiên, cá nướng, bát canh... Cúng thổ thần có trầu, cau, rượu, đồ giấy. Quan trọng hơn cả là bộ tam sinh : 3 tôm, 3 cua, 3 trứng, nải chuối, chè xôi và đặc biệt còn có mắm cái, rau lang luộc, thêm khoai lang cu, sắn củ, mía, bắp trái luộc, nước trắng lấy ở giữa dòng sông...Các món cúng khác với lễ kỵ giỗ truyền thống đã đành mà còn tiêu biểu cho thục đơn của tiên dân; mắm cái là món ăn khoái khẩu nhất khi đi đôi với rau lang (không phai rau muống). Mắm cái (mắm nêm) từ đây vào Nam sẽ phân biệt với mắm ruốc từ Huế ra Bắc. Cũng chú ý rằng người Quảng Nam luộc rau lang chấm mắm cái nhưng không đặt lên bàn thờ cúng ông bà. Còn như các món khoai, sắn, bắp, nước giữa dòng thì hoàn toàn đặt ra ngoài nghi lễ Việt Nam.

Cúng xong, bỏ dỗ ăn vào cái xà - lét (bị) treo lên các trụ cổng. Có người lấy bẹ chuối, bẻ theo hình thuyền, đặt xà - lét lên rồi đưa ra giữa dòng sông. Đó là bè xà - lét.

Nguyễn Văn Xuân

Một số điểm khác nhau về văn hóa Chăm An Giang và Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận

Người Chăm An Giang
- Cư trú ở vùng đồng bằng do phù sa màu mỡ bời đắp, ven sông, kênh rạch, palay trải dài theo cù lao hoặc mé sông.
- Khí hậu ôn hòa, sông nước kênh rạch bao phủ, bị ảnh hưởng mùa lũ trong năm.
- ngôn ngữ, chữ viết: phương ngữ có chiều hướng biến đổi. chỉ giống nhau khoảng 70%. chữ viết Arập qua biến thể chữ Mả Lai được dùng phổ biến.
- Nhà sàn cao 3-4m cách mặt đất, theo mực nước lũ.
- Lễ Rammadan cả tín đồ lẫn chức việc ăn chay một tháng.
- Sau khi chết thường đem chôn ngay.
- Theo phụ hệ. Hôn lễ phụ thuộc nhiều vào gia đình quyết định và có vai trò của ông bà mối. không theo mùa cưới nhất định mà bất cứ dịp nào thuận tiện.
Người Chăm Nam Trung Bộ
- cư trú ở các rìa đồi, dãy núi, palay quần tụ dạng hình tròn.
- Khí hậu khô khan, ít mưa, nguồn nước hạn chế.
- Nhà trệt hoặc nhà sàn thấp.
- Tín đồ ăn chay ba ngày, chức việc ăn chay cả tháng.
- Sau khi chết, quấn lại để thiêu, nghi lễ phức tạp hơn.
- theo mẫu hệ, lễ cưới thường được tổ chức chính thức bên nhà gái, vào những thời điểm thuận lợi và tốt lành nhất định

“Thổ cẩm Chăm Châu Giang” - Nhãn hiệu cần quan tâm!

Một trong những nhãn hiệu tập thể được Cục Sở hữu trí tuệ cấp chứng nhận cần sự quan tâm của các ngành chức năng quan tâm hơn. Đó là nhãn hiệu “Thổ cẩm Chăm An Giang”.
Tuy được sự hỗ trợ của tỉnh, huyện để khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống của cộng đồng dân tộc Chăm ở xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, nhưng vấn đề tiêu thụ các sản phẩm từ thổ cẩm chỉ dừng lại phục vụ du khách đến du ngoạn tại đây.
Trải qua nhiều thăng trầm, làng nghề truyền thống “Dệt thổ cẩm Chăm” ở ấp Phũm Soài thuộc xã Châu Phong (thị xã Tân Châu) vẫn tồn tại và phát triển. Mặc dù làng nghề hoạt động trong điều kiện khó khăn, do thị trường tiêu thụ chỉ dừng lại ở việc phục vụ “quà lưu niệm” cho du khách.       Trước đây (tháng 12/1998), khi mới thành lập Hợp tác xã Dệt thêu Chăm Giang, với số vốn điều lệ ban đầu trên 100 triệu đồng, với 18 xã viên và 45 lao động. Đến năm 2005, Đại hội lần 2( nhiệm kỳ 2005 – 2009) qua thời gian hoạt động, số vốn điều lệ của hợp tác xã tăng lên 136 triệu đồng, trong đó vốn cố định 41 triệu đồng, vốn vay là 80 triệu đồng, vốn góp của xã viên gần 15 triệu đồng. Hiện nay, hợp tác xã còn 23 xã viên tham gia hoạt động, với 74 lao động có việc làm và cuộc sống ổn định. Chị MARIAH - ấp Phũm Soài, xã Châu Phong, thị xã Tân Châu tâm sự với chúng tôi: “…Từ khi có nhãn hiệu” Thổ cẩm Chăm Châu Giang, cuộc sống của người dân tại đây cũng đỡ hơn, ban ngày dệt thu nhập 900.000đ/tháng, còn ban đêm thêu cũng có tiền thêm lo gia đình. Mong sao nghề truyền thống phát triển hoài …”
     Nét khởi sắc của làng nghề được đánh dấu từ năm 2007, Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể “Thổ cẩm Chăm An Giang”, bước đầu đã vượt dậy làng nghề truyền thống của cộng đồng dân tộc Chăm. Làng nghề hiện có 20 khung dệt hoạt động và làm ra nhiều sản phẩm “quà lưu niệm từ thổ cẩm” phục vụ cho du khách khi đến Tân châu như: túi xách, balô, áo sơ mi nam, khăn đội Mađara, các lễ phục cho phụ nữ Chăm, nón lễ cho nam vào dịp tháng Romadol và lễ hội Hazy… Qua 3 năm khôi phục và phát triển, Hợp tác xã đã từng bước xây dựng nhãn hiệu “Thổ cẩm Chăm An Giang” được nhiều du khách biết đến. Ông MohaMad – Phó chủ nhiệm Hợp tác xã Dệt thêu Châu Giang nhấn mạnh: “…    Nhãn hiệu tập thể “Thổ cẩm Chăm An Giang” được xây dựng dựa vào nét đặc trưng từ hoa văn đến màu sắc của sản phẩm dệt truyền thống có từ lâu đời của cộng đồng dân tộc Chăm ở An Giang. …
    Việc xây dựng nhãn hiệu tập thể “Thổ cẩm Chăm An Giang” là bước đột phá để vượt dậy làng nghề để cộng đồng dân tộc Chăm vừa lưu giữ được ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống cho thế hệ mai sau, vừa tạo việc làm ổn định cho lao động tại địa phương.
         Tuy nhiên, các sản phẩm thổ cẩm còn quá đơn điệu, khung dệt cũ kỷ, thu nhập của người lao động còn thấp v.v…Vì vậy, để khôi phục và phát triển làng nghề bền vững, địa phương sẽ triển khai thực hiện “Dự án phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp cho người Chăm giai đoạn 2008 – 2012”.
    Trao đổi với ông Nguyễn Anh Phương – Chuyên viên Phòng Kinh tế thị xã Tân Châu: “…Giai đoạn đầu thực hiện dự án, Phòng kinh tế thị xã Tân Châu đã kết hợp với Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh đã tổ chức chuyến tham quan, học tập kinh nghiệm tại mô hình sản xuất của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thổ cẩm K’Long của dân tộc K’Ho ở huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng và Công ty thêu tranh trên lụa XQ ở thành phố Đà Lạt, qua đó giúp các xã viên của hợp tác xã tiếp cận và học tập kỹ thuật thêu, dệt, nhuộm, thiết kế và phân phối sản phẩm thổ cẩm….”
         Với những bước đi vững chắc, hy vọng nhãn hiệu tập thể “Thổ cẩm Chăm An Giang” của Hợp tác xã Dệt thêu Châu Giang sẽ tiếp tục bay xa, vươn xa hơn, để cuộc sống của cộng đồng dân tộc Chăm ổn định và khấm khá. Không chỉ vậy, các sản phẩm của hợp tác xã sẽ được du khách biết đến khi một lần đến quê hương Tân Châu./.

                                                                                Kim Oanh

Sắc màu lễ hội Chămpa

Mỗi năm, người Chăm có nhiều lễ hội. Hầu hết các lễ hội này đều mang nhiều ý nghĩa, đậm bản sắc nhân văn và là dịp để sẻ chia với những người nghèo khó trong cộng đồng

Trải qua nhiều biến động, đến nay, đồng bào Chăm ở An Giang vẫn giữ được những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của mình. Điều này thể hiện qua hàng loạt lễ hội diễn ra quanh năm của người Chăm, như: Lễ tạ ơn, lễ cầu an, lễ hội đua ghe ngo, lễ mừng sinh nhật giáo chủ Mohammed, lễ Ramadan, lễ hội Roya...

Ramadan sẻ chia

Lễ tạ ơn (Asura) thường được tổ chức vào mùng 10 tháng giêng Hồi lịch (sau âm lịch 1-2 ngày). Theo truyền thuyết của người Chăm dòng Islam, xưa kia có một trận đại hồng thủy nhấn chìm tất cả làng mạc, gây khốn đốn cho người dân.

Lúc đó, một vị thần đã dùng gỗ đóng một chiếc bè lớn chở mọi người đi lánh nạn. Về sau, cứ tới ngày này, người dân lại nhớ đến công ơn của vị thần kia nên hành lễ, nấu món ăn cúng bái, tạ ơn.

Người Chăm Islam ở An Giang hiện có hai dòng theo đạo cũ và đạo mới. Theo ông Ismal, giáo cả làng Chăm Châu Phong, xã Châu Phong, huyện Tân Châu, một bộ phận người Chăm theo đạo mới không tin truyền thuyết vừa kể trên nên không làm lễ Asura; còn người Chăm theo đạo cũ thì duy trì lễ này hằng năm.

Ông Yatà, giáo cả làng Chăm Châu Giang, xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân, cho biết lễ cầu an là xin thánh Allah ban cho con người sức khỏe để làm ra lúa gạo. Đua ghe ngo là môn thể thao truyền thống của đồng bào Chăm An Giang, thường được tổ chức thi đấu, giao lưu giữa 4 dân tộc anh em trong tỉnh.

Còn lễ mừng sinh nhật nhà tiên tri - giáo chủ Mohammed vào ngày 12-4 Hồi lịch hằng năm là dịp để con cháu người Chăm tìm hiểu về cội nguồn, về sự ra đời của đạo Hồi. “Lễ mừng sinh nhật giáo chủ Mohammed diễn ra trong 2 ngày, lúc này giáo dân sẽ tập trung ở thánh đường nghe giáo cả giảng đạo, kể lại những câu chuyện về giáo chủ” – giáo cả Yatà cho biết.

Lễ quan trọng nhất của người Chăm là Ramadan - lễ nhịn ăn hoặc tháng ăn chay. Ramadan kéo dài từ mùng 1 đến ngày 30 của tháng thứ 9 Hồi lịch. Bước vào tháng Ramadan, trừ trẻ em dưới 15 tuổi, mọi người Chăm còn lại phải nhịn ăn từ 4 giờ 15 phút đến 18 giờ 15 phút mỗi ngày.
 

Các bạn trẻ người Chăm An Giang biểu diễn văn nghệ trong một dịp lễ hội

Sau giờ này, người ta có thể ăn uống thoải mái. Ông Yatà tiết lộ: “Những người già cả, bệnh tật không thể nhịn ăn thì phải “trả gạo” mỗi ngày 1 kg để san sớt cho người nghèo. Ý nghĩa của lễ Ramadan này là sự sẻ chia, cảm thông với những người nghèo khó, thiếu ăn, thiếu mặc trong cộng đồng để mọi người yêu thương nhau hơn; đồng thời rèn luyện cho họ sự tiết chế, chống những cám dỗ vật chất”.

Gần đây, lễ Ramadan còn là dịp để du khách và những người ngoại đạo đến các làng Chăm vui chơi, tìm hiểu nét văn hóa độc đáo này. Các công ty du lịch còn tổ chức các chuyến tham quan kết hợp ẩm thực đặc sản của người Chăm vào tháng ăn chay, tất nhiên là trong khoảng thời gian đã qua giờ nhịn ăn của họ.

Roya thêm tuổi mới

Kết thúc tháng Ramadan, đồng bào Chăm An Giang bước vào lễ hội Roya - Tết dân tộc. Roya chia làm hai giai đoạn: Tiền Roya (Roya Fitry) và Roya chính (Roya Phik Trok hay Haji). Theo ông Yatà, Roya Fitry là thời gian để mọi người chuẩn bị nhà cửa, nuôi thúc dê, bò hoặc tranh thủ đi làm kiếm tiền về ăn Tết.

“Tại An Giang, Haji chỉ diễn ra từ mùng 10 đến 13-12 Hồi lịch; trong khi lễ hội Haji của người gốc đạo ở Malaysia kéo dài đến 7 ngày. Vào những ngày này, các thánh đường sẽ mổ bò, dê chia cho cả làng ăn Tết. Tính theo Hồi lịch, vào lễ hội Roya, mỗi người Chăm thêm một tuổi mới” - ông Yatà cho biết.

Dịp Roya, nam giới từ 15 tuổi trở lên sẽ đến giáo đường hành lễ, cầu nguyện trong một ngày, những ngày còn lại đến nhà hàng xóm thăm hỏi, chúc tụng, chia nhau những món bánh, miếng thịt. Nhờ đó, cộng đồng người Chăm ở An Giang rất gắn bó, thân thiết với nhau. Chính vì vậy, cộng đồng người Chăm An Giang còn gọi lễ hội này là “Roya yêu thương”.

Theo giáo cả Ismal, Roya còn là dịp để người Chăm theo đạo Hồi hành hương về thánh địa Mecca ở Ả Rập Saudi. “Những người giàu có năm nào cũng hành hương về thánh địa Mecca. Người Hồi nào chưa đến thánh địa này một lần thì chết cũng còn hối tiếc” - ông Ismal tâm sự.

Vào dịp lễ Roya, nhiều du khách nước ngoài hay các cộng đồng dân tộc anh em đến các làng Chăm An Giang tham quan, chung vui đều được các gia đình người Chăm thết đãi hết sức chân tình, nồng hậu.

Xóa bỏ nhiều tập tục cũ
Do tiếp thu những giá trị của các nền văn hóa khác, người Chăm An Giang dần xóa bỏ nhiều tập tục cũ. Điển hình như sa-gâm (cấm cung).
Phụ nữ Chăm An Giang không còn phải che kín mặt khi ra đường; được đến những điểm vui chơi, giải trí...

Khác với trước đây, ngày nay, dịp lễ cưới là cơ hội để các bạn trẻ người Chăm vui chơi thỏa thích. Khi có đám cưới, dù nhà gái hay nhà trai không mời gọi song tất cả thanh niên trong làng vẫn tự nguyện xúm lại giúp hai bên trang hoàng nhà cửa. Đám cưới diễn ra trong 3 ngày:

Ngày nướng bánh (Âm Ha), ngày nhóm họ (Pa Thưng - Pa Gú) và  ngày lễ lên ghế. Vì theo chế độ mẫu hệ nên nhà trai đưa chú rể sang nhà gái chứ không rước dâu. “Dù vậy, khi đã thành vợ chồng, cả hai đều cùng làm việc, chăm lo cuộc sống chung chứ không phải người vợ quyết định hết mọi việc hay làm chủ gia đình” – giáo cả Yatà cho biết.

Tiếng trống yêu thương

Người Chăm ở tỉnh An Giang quan niệm tiếng trống cất lên là báo hiệu niềm vui, niềm hạnh phúc

Ông Musa Haji, Trưởng Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo dân tộc Chăm An Giang, cho biết trống của người Chăm có 2 loại là  Paranưng và Panà.

Một tiết mục múa trống cổ của người Chăm ở tỉnh An Giang

Mai một theo thời gian

Trống Panà chỉ dùng trong ngày hôn lễ. Một đội trống Panà gồm 12 chiếc, 2 trống đực và 10 trống cái. Người chơi trống đều là nam giới, ngồi quanh thành vòng bán nguyệt hay vòng tròn mà vỗ lên trống để có những thanh âm trầm bổng.

Những người chơi đồng thanh cất vang lời những bài hát ca ngợi nghĩa tình mẹ cha đối với người con đang cưới gả, ca ngợi tình yêu đất nước, lời răn dạy...
Trống Paranưng được sử dụng cả những ngày lễ Tết, người chơi có cả nam lẫn nữ vừa đánh trống vừa hát múa chung vui.

Người Chăm ở An Giang hiện chỉ còn lưu truyền trống Panà và biểu diễn cả trong những ngày lễ hội. “Trước đây, mỗi làng Chăm đều có đội trống cổ. Thế nhưng bây giờ chỉ còn 2 đội. Một đội ở xóm Chăm Châu Giang, huyện Phú Tân và đội ở làng Chăm Lama, huyện An Phú. Cũng chỉ còn chưa đến chục người già biết chơi, biết hát các giai điệu cổ nhạc Chămpa theo tiếng trống Panà. Những người này tập trung chủ yếu ở làng Chăm Lama”- ông Musa Haji nói.

Sau giờ lễ ngày thứ sáu, đội trống làng Chăm Lama tập hợp đầy đủ cả 6 thành viên. Những bàn tay của các “nghệ sĩ già” vỗ vào mặt trống phát lên những cung trầm, cung bổng và vọng theo đó là lời một bài hát Chăm cổ. Theo tiếng dẫn của trống đực, từng cung bậc âm thanh vang vọng, ru hồn.

Giọng ca lúc trong vắt vút cao tựa bay bổng giữa tầng mây, lúc trầm lắng ngọt ngào như dòng phù sa sông Hậu hiền hòa. Người nghe cảm thấy loáng thoáng đâu đây hình ảnh của những cô gái Chăm e thẹn bên chiếc khăn Mat’ra làm say đắm bao khách xa gần, những chàng trai Chăm bủa chài, quăng lưới.

Người Chăm quan niệm tiếng trống cất lên là báo hiệu niềm vui, niềm hạnh phúc. Bởi vậy mới gọi là tiếng trống yêu thương.

Nguy cơ thất truyền

Theo chỉ dẫn của ông Musa Haji, chúng tôi tìm đến làng Chăm Lama. Ông Mách Ta Rế, Trưởng Ban Trống cổ Lama, vui mừng tiếp chuyện. Ông chia sẻ: “Trống cổ Panà này trước đây có đủ 12 cái. Nó có tuổi thọ trên dưới 300 năm rồi, nhưng thời chiến tranh, mỗi người đem về cất riêng, rồi thất lạc, bây giờ tập trung lại chỉ còn 6 chiếc, chỉ có nửa đội.

Anh em chơi trống thì lâu lâu mới tập trung vì bận làm ăn xa. Tụi tôi giờ năm sáu chục tuổi hết rồi, giọng không còn trong trẻo, sức cũng yếu dần. Thế mà muốn dạy cho đám con cháu cũng khó vì chúng không chịu học”.

Theo ông Mách Ta Rế, trống Panà được làm bằng cách khoét lỗ thân các loại gỗ thuộc hàng danh mộc như giáng hương, mun... và đắp mặt bằng da dê già. Niền thân trống làm bằng cây mây rừng to hơn chiếc đũa, thân trống viền quanh bằng dây gân dày (trước đây đều dùng cây mây). Âm trống hay hoặc dở là do việc niền trống, căng trống và quan trọng nhất là thân trống phải được làm từ gỗ quý có tuổi từ 100 năm trở lên.

Âm điệu trống cổ Chămpa xoay quanh 3 cung bậc: trầm-trung-bổng. Mỗi cung bậc lại được chia thành những khoảng khác nhau và hình thành nên từ độ mạnh, yếu, vị trí của bàn tay người chơi vỗ vào mặt trống. Trống đực nhỏ hơn các trống còn lại nhưng là trống dẫn. Người đánh trống dẫn là nhạc trưởng và là người dẫn đội trống về thanh âm lẫn lời bài hát. Tùy theo lời hát và độ cao trầm mà tiếng trống cứ thế đánh theo.

Người Chăm ở An Giang bây giờ còn phát triển thêm một loại trống mới là trống Khnag. Trống Khnag tựa trống sử dụng trong dàn nhạc nhẹ nhưng chỉ có một trống cái và ba trống con.

Đắm mình trong tiếng trống

Ông Lâm Thanh Bình, Trưởng Ban Tuyên giáo huyện An Phú, là một nghệ sĩ,
nhạc sĩ đã gắn bó phần lớn sự nghiệp hoạt động âm nhạc với đồng bào Chăm
ở tỉnh An Giang. Ông cho biết để có tâm hồn đồng điệu với nghệ thuật Chăm
thì phải đắm mình trong tiếng trống người Chăm. “Hãy nhìn theo bàn tay điêu
luyện của nhạc công.

Âm thanh thùng... chập... thùng... chập... vang lên đều đặn khi đôi bàn tay nhẹ
nhàng vỗ hai đầau mặt trống. Rồi người nghệ sĩ vút cao lời hát dân ca Chăm biến
ảo, lúc trầm lắng, lúc thánh thót đưa hồn người nghe vào cõi mộng vô thường”
- ông Bình không giấu được cảm xúc hào hứng.

“Sự lai căng nhạc trẻ, nhạc phương Tây bây giờ đã khiến một bộ phận thanh
niên người Chăm không còn mê tiếng trống Panà truyền thống”- ông Yatà,
một nghệ nhân trống cổ của người Chăm ở An Giang, buồn bã nói

 Bài và ảnh: QUỐC DŨNG

Thứ Ba, 8 tháng 2, 2011

Tục cưới hỏi của người Chăm An giang

theo Putra Champa
      Dân tộc Chăm – một dân tộc có bề dày lịch sử trên dãi đất miền trung Việt nam. Đã từng để lại những dấu tích oai hùng mà đến nay vẫn còn sừng sững , hiêng ngang thách thức mọi sóng gió dập dùi. Nhưng ở đâu đó xa xôi về phía nam, giữa một châu thổ Cửu long giang trải dài với những cánh đồng bất tận xanh rì, với những ánh nước vẫy vùng bởi đàn cá kiếm ăn theo bầy . Nơi đó cũng có người anh em của họ ngày đêm đang mệt mài bên khung cửi thiêu dệt nên những câu chuyện cổ tích làm lan tỏa sắc Chăm thắm vào từng giọt phù sa của vùng đồng bằng châu thổ.
Cô dâu chú rễ trong trang phục truyền thống
      Người Chăm An giang nói riêng và người Chăm ở vùng Nam bộ nói chung có giọng nói và nét văn hóa gần như giống nhau và tất cả đều theo Islam. Họ có những nét văn hóa riêng độc đáo rất khác so với người Chăm ở vùng Thuận Hải , mà tiêu biểu ở đây tôi xin trình bài vài nét về phong tục cưới của họ.
      Người Chăm An giang theo phụ hệ nên khi dạm hỏi đàn trai phải sang nhà gái dạm hỏi và phải chịu tiền thách cưới. Trước tiên nhà trai nhờ một người có uy tín trong plei sang nhà gái dọ ý, khi nhà gái chụi thì nhà trai mới mời họ hàng sang để làm lễ dạm hỏi gọi là “tamâ khia”. Trong lễ dạm hỏi này nhà gái đặc những điều kiện và đưa ra tiền thách cưới.
Sính lễ nhà trai trong lễ "kalaoh panuec"
    Khi được sự đồng ý trong thỏa thuận cả hai nhà tiến đến làm lễ “kalaoh panuec” tạm dịch là “ dứt lời” trong ngày lễ nhà trai phải dâng lễ vật là một mâm đầy ấp trái cây và nhà gái đáp lễ lại bằng những khay bánh đầy.
Sính lễ nhà gái trong ngày "kalaoh panuec"
     Sau lễ “kalaoh panuec” là lễ “ikak tangân” tạm dịch là “cột tay”. Đây là giai đoan đã gần tới ngày cưới. Trong lễ “ikak tangân” nhà trai phải dâng những lễ vật đắc tiền với những đồ vật truyền thống ( áo dài, váy, khăn mat’ra, giày , dép…) và các đồ vật sử dụng hàng ngày ( lược , đồ trang điểm….)
     Sau đó ha họ tiến hành đến lễ cưới chính thức.Thật ra lễ cưới trong Islam chỉ là phụ. Chủ yếu là lễ “Kabul” trong thánh đường. Tức lễ mà nhà gái đứng công khai tuyên bố gả người con gái và người con trai cũng công khai tuyên bố chấp nhận.
Chú rễ sau lễ "Kabul" trong thánh đường
    Lễ cưới của người Chăm An giang diễn ra trong hai ngày và một đêm. Ngày thứ nhất là lễ “ Jumnait” trong lễ “ Jumnait” này có lễ “ tagok khagé” “ lên ghế”, mời bà con dòng họ đến ăn uống và văn nghệ. Nhưng trong ngày cưới này chủ yếu là bà con họ hàng và người cùng xóm. Không có khách xa.
    Tiếp theo là đêm “ Malam anâk dara” hay “ malam anâk dam”. Đây là đêm hội mà trai thanh nữ tú có cơ hội gặp mặt nhau. Cô dâu, chú rễ mời bạn bè đến chung vui , hát hò đến tận khuya.
Văn nghệ đêm "malam anâk dara"
      Và sáng sớm hôm đó là “ harei he” hay nôm na là ngày đưa chú rễ về nhà gái. Đây là tập tục còn sót lại của chế độ mẫu hệ xa xưa. Tuy vậy người Chăm luôn quan niệm đưa đàn ông đến làm chủ gia đình, quán xuyến và lo lắng cho cuộc sống của cả một đời người vợ. Chú rễ đựợc đưa đi với áo lọng chỉnh tề sau khi được hát tiễn biệt với bài “ la amék la imâ”.
Chú rễ được đưa qua nhà gái
     Tối hôm đó các cụ già có tuổi được mời tới thấp trầm hương và cột mùng cho cô dâu chú rễ. Sau ba ngày động phòng nhà gái làm lễ “walimah” mời đàn trai và họ hàng tới ăn coi nhưng xong việc cưới hỏi….người Chăm An Giang muốn có vợ đâu phải dễ…hiii..hiii.